"ĐẶT THƠ" VÀ "LÀM THƠ"

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA

Tường Vũ Anh Thy

 

 
 

 

 

 

 

Qua tự điển Việt Nam, chữ đặt thường được hiểu nghĩa: đặt chỗ, đặt cọc, đặt để, đặt hàng, đặt ra, đặt tên... hoặc: bày đặt, sắp đặt, đặt thơ, đặt truyện, đặt tuồng... (Riêng chữ đặt lời, đặt chuyện (ch.) còn có nghĩa bịa đặt, thêu dệt, nói láo...). Những việc này, bên cạnh chữ đặt có thể được hiểu ngầm là có chữ thành: đặt (thành) lời, đặt (thành) nhạc, đặt (thành) thơ; đặt (thành) truyện; đặt (thành) tuồng... Cả hai chữ [đặt (thành)] cho ta ý làm, thành ra ta có thể hiểu theo ngữ nghĩa: làm lời, làm nhạc, làm thơ, làm truyện (văn), làm tuồng... Nhưng chữ đặt rặt miền Nam trong việc đặt thơ có khác với chữ làm. Tôi thấy đặt thơ
làm thơ có một khoảng cách lớn, rất lớn.

Ở miền Nam, người ta thường nói đặt thơ, đặt tuồng... để chỉ công việc viết thành lời những vần thơ, những tuồng tích; ít khi gọi đó là việc làm thơ, làm tuồng... Riêng chữ làm tuồng còn được hiểu như sắm tuồng để trình diễn, hoặc làm bộ, giả bộ... Đến đây xin tạm ngưng phần giải nghĩa lòng thòng để đi thẳng vào vấn đề: Sự khác biệt giữa đặt thơ làm thơ như thế nào?

Xin thưa: đặt thơ là nhân (hoặc mượn) một sự kiện, sự việc, hoặc hình ảnh, tình cảm, tình cảnh... để viết ra bằng văn vần (đã có sẵn các thể điệu như Đường thi, Song thất, Lục bát...) như bà Huyện Thanh Quan đặt bài Qua Đèo Ngang; bà Hồ Xuân Hương đặt bài Đánh Cờ Người; Nguyễn Du đặt Kiều; Nguyễn Đình Chiểu đặt Lục Vân Tiên; bà Đoàn Thị Điểm đặt Chinh Phụ Ngâm; các ông Phạm Đình Toái và Ngô Cát đặt Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca v.v... (các tác giả Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du với Chinh Phụ NgâmKiều, chữ đặt còn có nghĩa là dịch; tôi sẽ bàn ở những bài khác).

Còn làm thơ? làm thơ là... từ trong (hoặc chính là) một sự kiện, sự việc, hình ảnh, tình cảm, tình cảnh... để viết ra một cách sôi nổi, thật thà (có sẵn, hoặc không có thể điệu) như Thanh Tâm Tuyền làm Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy; Nguyễn Đức Sơn làm Đêm Nguyệt Động; Phạm Công Thiện làm Ngày Sinh Của Rắn; Lê Đạt làm Bóng Chữ, hoặc các tác giả trong tạp chí Thơ như Hoàng Phủ Cương, Khế Iêm, Lưu Hy Lạc, Nguyễn Hoàng Nam, Đỗ Kh., Nguyễn Tiến v.v...

Sự khác biệt từ khởi đầu đến hoàn tất. Khởi đầu của đặt thơnhân, hoặc mượn, và hoàn tất của nó là thành một bài thơ. Khởi đầu của làm thơ là từ hoặc chính là, và hoàn tất của nó là có một bài (được gọi là thơ). Người đặt thơ có thể biết trước (gần hết) bài thơ sẽ như thế nào. Kẻ làm thơ không thể biết trước như thế. Người đặt thơ có ý định chắc chắn tạo thành một bài thơ; còn kẻ làm thơ chưa có, hoặc không có, hoặc có rất ít.

Một nhà văn Nhật Bản đã phân biệt nghệ thuật thơ với nghệ thuật cắm hoa tấu nhạc. Ông ta cho rằng cắm hoa và tấu nhạc là những nghệ thuật sống động trong khoảnh khắc. Cắm một bình hoa đẹp, đến khi hoa tàn (rất sớm) thì bình hoa cũng... tàn theo. Hát, hay tấu một bản nhạc, âm ba vừa dứt thì bản nhạc cũng... chìm đi. Cái hay tuyệt chỉ hiện lên trong một thời gian ngắn ngủi, sống động như cuộc sống. Khác với thơ (và kiến trúc, điêu khắc...) ý định của tác giả là muốn bài thơ (tác phẩm) trở thành vĩnh cửu (1). Tôi nghĩ rằng ông ta muốn nói đến nghệ thuật đặt thơ. Bởi vì ý định của người đặt thơ là ý định chắc chắn, và sự hình thành của bài thơ là một chắc chắn hơn. Bởi thế người ta đã từng khắc trạm thơ trên bia, tường, vách đá... Điển hình như ở Huế, có những bài thơ của vua quan triều Nguyễn khắc trạm thành hình thể trong các đền đài (2).

Đặt thơ không những là một việc làm cầu kỳ, có quy ước, mà còn phải có dự tính, ý thức và tham vọng bài thơ trở thành vĩnh cửu. Do đó việc đặt thơ khó tránh được sự bắt chước, sáo rỗng, tuy nó vẫn có những cá biệt. Những cá biệt hiếm hoi chỉ dành cho một số các nhà thơ lớn có tứ và từ khác lạ. Đôi khi họ là những người lập ra những quy ước (thể thơ), đôi khi họ là những người hoàn chỉnh quy ước ấy. Đặc biệt thơ văn dân gian, bao gồm ca múa, ca dao, tục ngữ và cả thành ngữ nữa, là những lời được đặt một cách khéo léo, giản dị, nhằm phổ biến trong quần chúng; và nó có tham vọng để đời. (Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ). Nó cũng như thơ nói ở miền Nam, các tác giả vô danh hay hữu danh, là những nghệ nhân có tài đặt thơ, đặt lời điêu luyện. Lợi điểm của nó là nó tiếp thu được những sáng tạo của giới trí thức (tạo ra quy ước); và bằng một phong cách chân thực, táo bạo hơn, nó thể hiện được sự sáng tạo ấy. Chữ viết lách chỉ được dùng cho giới trí thức, ít khi có trong giới nghệ sĩ dân gian; bởi vì giới này không cần viết (hoặc rất ít khi phải viết), văn chương của họ hầu hết là truyền miệng, và không bao giờ phải lách. Đặc điểm và lợi điểm này đã tạo cho văn thơ dân gian một chỗ đứng vừa hào hùng vừa chân thật mà giới trí thức cổ điển không thể nào đạt được (3). Tôi cho rằng văn học dân gian là tột đỉnh của công việc đặt thơ, đặt lời. Chính từ đỉnh cao này, văn học dân gian đã chi phối và lấn lướt văn học Việt Nam, nói chung. Hầu hết các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam đã đồng thanh tiếc cho việc Khổng Tử san định Kinh Thi khiến cho văn học dân gian của Trung Hoa không phát triển được như văn học dân gian Việt Nam. Tôi nghĩ ngược lại: việc làm của Khổng Khâu là dồn 300 (hoặc 3000) bài thi ca dân gian Trung Hoa vào một chỗ. Đất còn lại tha hồ cho giới trí thức tung hoành. Lợi điểm của công việc này là giới trí thức Trung Hoa mỗi thời mỗi nẩy nở tiến bộ và họ thực sự đã có một nền văn học thành văn (4). Trong khi đó, ở Việt Nam, văn học dân gian bành trướng nhanh đến độ mà qua 4000 năm (hoặc rất ít hơn) ta chỉ có những tác phẩm sơ sài, ít ỏi, đếm qua đếm lại không đầy tứ chi của giới vua quan văn võ. Nhận định này không có ý chê bai văn học dân gian mà chỉ có ý tiếc cho việc mất quân bình văn hóa trong lịch sử xã hội ở Việt Nam. Đây cũng là đề tài phải bàn cặn kẽ.

Trở về với công việc làm thơ. Tôi cho rằng làm thơ là một nhu cầu trí thức, hoặc tâm linh. Bài thơ làm ra, có hoặc không cần quy ước, không cần dự tính, cũng không cần tham vọng, nhất là tham vọng vĩnh cửu. Kẻ làm thơ đôi khi làm vì sự thôi thúc nội tâm hơn là ngoại giới. Tôi tin rằng những người làm thơ không có ý định trước là bài thơ của mình sẽ để đời. Ngược lại, họ có thể hủy bỏ chính những bài thơ của họ. Hành động này có lẽ sẽ mở ra cho họ những con đường thênh thang khác nếu họ muốn tiếp tục đi.

Tóm lại, việc đặt thơ cũng như chuyện cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy tuy là một việc phải đạo, nhưng đã phần nào chậm lại bước tiến của văn hóa. Mọi sự cách tân đều phải làm. Và thơ hôm nay (sắp đến thế kỷ 21) là những dòng thơ không đạt trước.

Chú thích

(1) Yukia Mishima trong Kinkakuji (Kim Các Tự). Tôi cho rằng hành
động đốt chùa (mổ bụng trên thực tế) là một hình thức quyết liệt
bước qua từ "đặt" đến "làm".

(2) Vừa để giải trí, tôi trích dẫn bài "Vũ Trung Sơn Thủy" của
vua Thiệu Trị (trị vì 1841-1847). Bài này tôi photocopy 64% trong
Việt Nam Khảo Cổ Tập San số 1 - Sàigòn 1960; tr. 172.

-------------

và bản dịch của ông Phạm Ngọc Khuê in trong cuốn Thần tích Đức
Thánh Trần (Hội Tương Tế Bắc Việt, Saigon 1963).

Đây là bài thơ làm theo thể Hồi văn kiêm Liên hoàn. Có thể đọc
ngược, đọc xuôi, đọc trên, đọc dưới thành 64 bài thơ!

-------------

(3) Một ví dụ hiện nay, người ta đã đặt lời cho bài Sơn Nữ Ca của
Trần Hoàn (Bộ Trưởng Văn Hóa CHXHCN/VN, tái nhiệm 1995):

Một chiều anh Sáu Dân
tê lê phôn cho anh Ca Lê Thuần
Anh bảo rằng:
Rằng kinh tế thì nhiều thành phần
Rằng văn hóa thì một thành phần
Nên quán triệt nghe em

Ở trong nước, các tác giả hầu hết khi viết đều phải "lách". Chỉ có thơ văn dân gian là dám nói thẳng.

(4) Ý thức hệ Nho học là một triết học về chính trị nhằm thiết lập một xã hội quân chủ chuyên chế, trong đó việc cấu tạo, chính quyền chặt chẽ là cốt yếu. Ông Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa) khi viết cuốn Kinh Thi Việt Nam có lẽ đã mơ hồ thấy việc làm tuyệt chính trị của Khổng Khâu khi san định Kinh Thi. Nhưng Trương Tửu không triệt để và đã chậm đến hơn 2000 năm! Tuy nhiên khi viết bài này tôi còn chậm hơn ông mấy chục năm!

 

 

 

Last modified on 11/05/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC