Trung Nhân
Thơ, Tiếng Lòng của Dân Tộc
Viết cho đêm thơ nhạc 28-10-95 tại Philadelphia.
Đối với dân tộc Việt Nam, thơ không chỉ nằm trong lãnh vực nghệ thuật, văn chương, triết lý, tư tưởng, cất dấu trang trọng trong những pho sách cổ... mà tản mạn hơn, phong phú hơn. Thơ còn là một phương tiện, một tiếng nói riêng trong cái đau chung, nhất là trong cái đau của người biệt xứ. Không phải cho đến ngày bỏ nước ra đi, đau buồn nơi xứ lạ, người Việt mới trút tâm sự u hoài của mình trên những bài thơ, mà từ khởi thủy, thơ đã là một nét đặc thù, độc đáo của dân Việt Nam. Đất nước rộng lớn, từ một nhóm nhỏ qui tụ nơi Động Đình Hồ và tiến dần về phương Nam, dòng thơ Việt đã theo đó mà chắp cánh bay xa đến từng xóm đồng, làng mạc, sông hồ. Thơ có lúc đã là những bài hịch, lời truyền có sức mạnh như giòng cuồng lưu nhận chìm lòng tham của bọn xâm lược. Thơ có khi là một hình ảnh thanh bình của lúa chín, ngô thơm nơi bờ ao, bãi giếng. Thơ có lần cũng là tiếng thở dài não ruột trước cảnh nước mất nhà tan. Rồi thơ trở lại như một lời ru của mẹ, giọng hát của em, dỗ dành đứa bé trong mỗi chúng ta một giấc ngủ yên bình. Thơ đã là những bài ca diễm tuyệt ngàn đời của tình yêu đôi lứa. Thơ đã ăn sâu vào giòng tư tưởng, vào câu hò, lời hát ví von, lời mẹ dạy. Thơ viết ra như những lời tự tình tha thiết hay những điều minh xác quả quyết. Thơ đã bén rễ từ cội nguồn và lớn mạnh sau những can qua, lửa đạn. Thơ vẫn sống và sống mạnh hơn, trước thách đố, trước bao nạn diệt vong. Người Việt còn, tiếng thơ Việt còn và đất nước Việt còn, sẽ còn mãi mãi. Tự thân, thơ là những lời đẹp của ngôn ngữ mẹ ghép lại trong vần điệu dễ nghe, dễ cảm, dễ chấp nhận, dễ truyền tụng qua ngàn đời. Thơ, là tiếng lòng của dân tộc.
Năm 75, trong mỗi chúng ta, khi trốn chạy, đã bỏ lại sau lưng tất cả. Nhưng ai trong chúng ta không mang theo trong hành lý đầy ắp những kỷ niệm đẹp, những niềm vui, nỗi buồn của tháng ngày đã khuất. Với hai tay trống trải, với một khoảng trống mênh mông và một tương lai vô định. Từ những ngày đầu nơi xứ lạ chúng ta đã vật lộn với cuộc sống khó khăn, cuộc đời hiu quạnh, nỗi lòng trống trải để nuốt từng giọt nước mắt đắng cay mà từng ngày qua lầm lũi đi tới. Tiếng thơ trong giai đoạn này thường khóc cho thân phận của kẻ mất nước xa nhà, của những đau thương tưởng như không bao giờ hàn gắn được. Những bài thơ của Viên Linh, Hà Huyền Chi... đã làm cho chúng ta bật khóc như Cao Tần đã khóc: "Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió. Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan" và để tự hỏi mình: "Ta làm gì cho hết nửa đời sau". Quê hương lúc đó đã được cất dấu trong hành lý mang theo vỏn vẹn trong những tấm hình mờ cũ, những con đường đầy lá me bay, những xóm làng với khói lam chiều quyện dưới hàng cây cau ốm yếu. Quê cũ thì còn nhưng quê nay thì đã mất rồi. Chúng ta moi tìm trong ký ức, nhớ lại từng chi tiết nhọc nhằn, rồi từng đêm vẽ lại một tấm hình không trọn vẹn. Những mảnh đời tan vỡ không bao giờ tìm lại được. Nơi sở làm, trong lúc lái xe, những đêm dài trống vắng tiếng thơ buồn lại tuôn ra với đôi giòng lệ nhỏ. Thơ viết cho người vợ còn lạc bên trời, cho người anh trong trại tù sống chết, cho người mẹ mòn mỏi đợi con, cho người cha đã quẫn trí vì bất lực trước sự đổi dời... và cho người yêu lỗi hẹn, cho người bạn vừa mới tỏ tình... và cho riêng ta, cho mình ta thổn thức, trằn trọc trong nỗi dày xéo điếng người. Tất cả những giòng thơ trong giai đoạn 5 năm đầu như gởi hết tâm sự về bên kia những lời trăn trối của kẻ ra đi không có ngày trở lại. Ta đau hận nhưng không biết hận ai, ta trách đời nhưng không biết trách gì, chỉ còn lại mình ta, với ta đay nghiến, gậm nhấm, mỏi mòn...
Rồi thời gian qua, cái đau xa nhà cũng vơi đi, cuộc sống tương đối ổn định. Bạn cũ đã tạm quên đi, bạn mới bắt đầu và trong những lần tâm sự người Việt đã biến những đau thương cũ thành sức mạnh mới. Những câu hỏi được đưa ra: Ta làm gì để cứu lấy quê hương. Từ những thao thức, trăn trở như vậy họ đã tìm đến nhau. Rồi những lần xuống đường, những đêm không ngủ, đâu đâu cũng có cờ bay rợp trời với những ước mơ được chung vai góp sức. Những bài hát lời ca tranh đấu đanh thép vang lên. Không còn đau xót, ủy mị, thụ động ngồi chờ, tiếng thơ đã thoát xác, thăng hoa, đã tiên phong dẫn đường mọi người cùng tiến tới. Được sự tiếp tay của những người mới qua trong những đợt vượt biển ồ ạt, cùng với tiếng thơ của Nguyễn Chí Thiện hùng tráng từ lao tù, cả một tập thể người Việt khắp năm châu đứng lên nhận lãnh trách nhiệm, đồng tâm góp sức... lên đường làm lịch sử. Những bài thơ với lời lẽ bi hùng, cuồn cuộn như sóng thần, ầm ầm như bão nổi, ào ào như giông tố xuất hiện khắp đó đây. Những bài thơ của Bắc Phong, Giang Hữu Tuyên... được ngâm sang sảng trong những đêm văn nghệ. Những bài hát của Việt Dzũng, Nguyệt Ánh được hát vang bên những đống lửa trại bập bùng. Người Việt lưu vong không còn ngồi đó than khóc cho thân phận tủi hờn mà biết phải làm gì để rửa nhục, để cứu nước, dựng nhà. Hình ảnh quê hương lúc đó được vẽ lên như một nhà tù vĩ đại mà cả nước bị một bọn quỷ đỏ nhốt tù, đày đọa. Tin tức về cảnh đói nghèo mà người thân phải gánh chịu càng làm hăng lên lòng căm thù, ý chí quyết liệt giải phóng quê hương khỏi bầy quỷ đỏ. Những lời thơ cũng góp sức như những bài hịch lên đường, kêu gọi thanh niên gánh lấy trách nhiệm, đi làm lịch sử.
Những năm tháng cuối của thập niên 80, nhân loại đã chứng kiến cảnh tan rã của một ý thức hệ phi nhân bản trên toàn thế giới. Những tên hung thần của những chế độ bạo quyền đã bị đốn ngã. Nhân quyền đã được đề cao. Tình người đã được tôn vinh và những lằn biên giới được dựng lên để xích hóa loài người đã bị phá bỏ. Một số người Việt xa quê hương đã về lại thăm quê nhà, đã thấy tận mắt những đổ vỡ, hoang tàn. Đa số những người bị tù cải tạo được ra đi đã cho biết những kinh nghiệm tàn độc, tủi hờn qua những năm tháng bị ngược đãi từ một chế độ phi dân tộc. Người Việt hải ngoại đã ý thức vấn đề và từ đó công cuộc tranh đấu để mưu tìm phúc lợi cho dân tộc đã từ từ chuyển hướng từ bạo lực đến hòa giải và tranh đấu cho nhân quyền. Bà thơ Ta Về của Tô Thùy Yên xuất hiện như một thông điệp của tình thương. Tuy không một lời kêu gọi xóa bỏ hận thù nhưng bài thơ dài đó đã nói lên tấm lòng rộng mở của một con người sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm của kẻ thù đã bạc đãi kẻ thất thế. Ta Về có giá trị như một lời truyền của một dân tộc đã quá nhiều đau thương, kêu gọi bỏ qua chuyện cũ của những đứa con gà cùng một mẹ để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Trong nước, những bài thơ của Lê Đạt cũng kêu gọi xóa bỏ biên giới, xích xiềng, để cho những người Việt đến với nhau dễ dãi hơn, thâm tình hơn. Nhà thơ Cung Vũ cũng đã có lần viết: "Chẳng lẽ trong thơ cũng xích xiềng" cũng để nói lên điều đó.
Muốn làm được thế, Thơ phải bắt đầu một hành trình mới, một khai phóng mới, để phá bỏ những thông lệ cũ, những giáo điều, những trường phái, những phe nhóm, những lợi dụng... để thơ trở lại bản chất thật của thơ là phụng sự con người, nghệ thuật và nhân bản. Thơ lại làm một cuộc cách mạng mới để từ đó hướng dẫn con người, mở cửa tất cả biên giới để mọi người cùng chung góp. Những năm gần đây, thơ không còn mang tính chất tuyên truyền, xách động, để phục vụ cho một phong trào nào mà dành cho đại chúng. Thơ đã trở về lại với tác giả, nói điều họ muốn nói, viết điều họ muốn viết. cái sứ mạng cao cả mà bao nhiêu năm thiên hạ gắn cho thơ đã từ từ được tháo gỡ. Một số lớn các nhà thơ hải ngoại bây giờ đang đào phá vào thế giới thơ để tìm những kho tàng quí ẩn dấu trong đó lâu nay để đem ra phục vụ văn chương nghệ thuật với những giòng thơ hiện đại. Một số lớn vẫn còn tìm đến thơ như một lời tâm sự, chuyên chở một nỗi niềm, để mua vui những tháng ngày trống trải. Trang Châu đã buồn thảm khi thốt lên: "Đời bình ta chẳng là ta nữa. Ta chỉ là ta khi bão lên". Có thể cái thời như Trang Châu cũng như những người cùng lứa tuổi vùng vẫy đã qua đi rồi, nó đang trở nên nhàm chán. Cùng lúc, bây giờ đang là thời của thế hệ trưởng thành sau năm 75. Với họ thơ là của riêng tư, trầm mặc, khúc chiết với chính mình nhưng hời hợt với tha nhân. Thơ tình đã trở nên cốt lõi và xuất hiện nhiều. Du Tử Lê đã làm bóng chữ và nghĩa trong thơ tình để cho những nhà thơ trẻ như Khế Iêm, Ngu Yên, Đỗ Kh. ... đưa thơ về một thế giới khác mà có khi thơ là một độc thoại khô khan, thảm khốc đến táo bạo. Ở đó, thế giới thơ của người Việt hải ngoại là một thế giới cô đơn. Người làm thơ ít, kẻ thưởng thức thơ loại này không bao nhiêu. Lạc lõng, rồi họ cũng trở lại với đám đông nếu không níu kéo được đám đông đi theo họ.
Thơ là tiếng lòng thổn thức. Thơ là lối độc thoại khô khan. Thơ là một kỷ niệm đau đớn. Bởi thế nên thơ buồn mới được gọi là thơ hay. Lời thơ khi đọc lên ai cũng cảm thấy quằn quại, đau thương.
Ai cũng cảm thấy trong đó có một phần đời, phần kỷ niệm, phần mình. Trong cuộc đổi đời của 20 năm qua có cái đau, cái buồn, cái hận, cái tủi nào hơn mà đã chưa được nhắc nhở tới trong dòng thơ Việt. Tìm đâu xa, những lời thơ như thổn thức đó, là những trang lịch sử, viết bằng máu và nước mắt của những người Việt cùng khổ, đọa đày. Nhân loại ai đau hơn dân Việt Nam. Bởi thế nên mỗi người Việt là một nhà thơ, viết những lời thơ trải dài theo mệnh nước. Trong những năm tháng sống đời xa xứ, tình yêu quê hương, đất nước, đồng bào cũng tràn ngập như tình yêu em, như trong một lời thơ của Nguyên Lương: "Nhớ quê hương thơ anh sầu vang vọng. Thơ có buồn sao bằng ánh mắt em". Trong thơ, đất nước, quê hương, đồng bào và tình yêu là bất diệt.
Vũ Huy Quang
Thi Ca và Chiến Tranh
Kính gởi OB. G. & T.,
Tôi đánh bạo gửi thư này, trước là hỏi thăm ông bà được mạnh khỏe tôi mừng, sau là xem thư viết về địa chỉ này có tới nơi và có được hồi âm không, tôi cũng mừng.
Thi sĩ Ng. D đã về nước ngày hôm qua, sau khi bị chúng tôi hủ hóa và tẩy não. Các cảnh cầu Cựu Kim Sơn, phố Tàu, bờ biển, tác phẩm văn học... và các món tỉm sắm, ruột ngỗng, hủ tiếu Triều Châu là về phần vật chất; về phần tinh thần thì đương sự đã được cho vào trong trại sáng tác cá nhân của tôi uống trà, ngủ, và suy ngẫm sự đời ở Bolsa này. Rất nao núng.
Đương sự thì phản ứng mãnh liệt bằng cách tặng thơ, đọc thơ và tặng thơ. Không hiểu về phần anh em khác như thế nào, như anh chị biết đấy - tôi, thì phần tôi không nao núng.
Nhưng với bọn thi sĩ và khách yêu thơ người Mỹ (chưa từng có kinh nghiệm chiến tranh) thì khác.
Hôm kỷ niệm 50 năm dội bom Hiroshima 6/8/95, tôi đang ở sở làm, thì có điện thoại ở nhà gọi ngược vào sở, bảo tôi liên lạc gấp với Đ. Th ở Los Angeles. Hóa ra thi sĩ bộ đội cầu cứu, rằng "có mình tôi xung quanh toàn là Mỹ... ông lên thông dịch hộ".
Ba chân bốn cẳng tôi chạy lên cho Ng. D thoát cảnh lúng túng. Hóa ra chàng được mời về khẩn cấp để đọc thơ. (*)
Buổi đọc thơ có Naomi Shihab Nye và Bruce Weigi, mỗi người đọc hàng 10, 15 bài.
Ng. D đọc chót, đọc 2 bài "Đá ơi" và "Bắn". Hai bài này đã dịch rồi (Bruce dịch), tôi chỉ có nhiệm vụ giới thiệu lại qua lời của D.
Sau khi tôi thêm ít lời, rằng chúng tôi không những đã bất ngờ không sửa soạn gì, chúng tôi lại mới quen nhau chưa được 1 tuần, lại đã từng kẻ Nam người Bắc trong 2 quân đội khác nhau thì người ta vỗ tay và chụp hình quá xá (dĩ nhiên tôi cũng được chụp)
Hai bài thơ "Đá ơi" và "Bắn"
........
........
........
........
Mọi người nghe lời dịch của Bruce Weigi, nghe lời đọc dõng dạc của D. để kết thúc buổi đọc thơ (Readings in The Poetry Garden) ở Vườn Thơ và anh chàng D. này "steal the show", nghĩa là trở thành cái đinh khỏa lấp 2 thi sĩ trước đó. Người ta vỗ tay ơi là vỗ tay, và lâu ơi là lâu. Tôi cũng phải vỗ tay theo...
Nhưng bao nhiêu người lại khen và bắt tay D., nào "Cám ơn" (Thank you) nào "rất tác chạm" (very touching)... nhưng để kết luận, có một phụ nữ Mỹ đợi mãi trong đám 2, 3 trăm thính giả, bắt tôi dịch từng lời trước D. Bà ta là một trong những người sau chót.
Tôi cảm động, bà ta cảm động, và Ng. D. cũng cảm động. Câu ấy thế này:
"Tôi xin cám ơn ông. Chúng tôi nợ ông một lời xin lỗi. Các ông đã dạy cho chúng tôi thế nào là lòng can đảm. Đất nước ông đã bị bom đạn chúng tôi tàn phá.
Nay nhờ những người như ông, mà người Mỹ có thể ngửng mặt lên được... sau những lời xin lỗi như thế này."
Bà ta mắt đỏ hoe. D. cũng đỏ hoe. Và thông dịch viên là tôi, cũng đỏ hoe.
Khi kể lại chuyện này, anh em văn nghệ bảo tôi là "xấu hổ thật". Và "Suốt đời ông là thông dịch viên đã đành, nay cựu Đại úy lại làm thông ngôn cho cựu Thượng sĩ."
Về phần người Bolsa thì thế, nhưng đối với cử tọa, với các bạn Mỹ mới quen hôm ấy, tôi có phát biểu một câu về thi ca cũng được nồng nhiệt tán thưởng.
"Xưa Plato bảo "choàng cho các thi sĩ vòng hoa rồi đuổi khỏi thành phố". Xem ra thi ca cũng có làm cho hai đứa tôi gần nhau, và làm cả quý ông quý bà gần với chúng tôi hơn".
George Evans, một thi sĩ, đáp lời mà ánh mắt long lanh.
"Thế là Plato ghen với chúng ta."
Nếu anh chị phổ biến thư này, hiểu cho tôi rằng lời của nữ thính giả Hoa Kỳ hôm đó tôi đã tường thuật trung thực, tôi tuyệt không có thêm thắt gì... kẻo lại bảo tôi làm tay sai... cho Mỹ.
Thân mến.
(*) Vườn thơ ở cao ốc Lawnan Foundation, 5401 Mc Cornnell, Los Angeles, trên đường đến phi trường L.A. Nơi làm căn cứ cho các thi sĩ Mỹ.
Bắn!...
Tặng Kevin Bowen và các nhà thơ Mỹ cùng đọc thơ với tôi tại
Boston
Những nhà thơ một thời đối thủ
may mắn thay không bao giờ là kẻ thù
Đại Bác Thơ
nã vào đêm đen muôn màn pháo hoa
nã vào nhau
tình người không biên giới
nã vào hồn người giai điệu nhân ái
tại sao một thời người ta bắn giết thơ
những vùng trời tàn sát
những vùng trời máu me
những vùng người hận thù
những vùng chết nhiệt đới
Tại sao
Tại sao
những thời con trai bị đánh cắp
những thời con gái bị cướp đoạt
những thời thơ ngây bị nướng khét xèo
những câu thơ bị thương thất thểu phế binh
những con chữ cụt đầu cụt tay cụt chân
ngọ nguậy kiến lửa
bao giờ lành vết thương thời xưa
Lỗ thủng hồn ta không thể vá lành
vết thịt rách tươi rói như mới
tươi rồi giọt đau nhểu xuống trang thơ
nhắc một thời ngu
nhắc nhân loại nghỉ chơi trò máu đổ
Cuồng nhiệt nữa Nhà Thơ Pháo Thủ.
Đại Bác Thơ
nã vào đêm đen muôn màn pháo hoa
Bắn!
Nguyễn Duy
ĐÁ ƠI
Ta mặc niệm trước AngKor đổ nát
đá cũng tàn hoang huống gì kiếp người
Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hòa bình
Nghĩ cho cùng
mọi cuộc chiến tranh
phe nào thắng thì nhân dân đều bại.
Nguyễn Duy
Thanh Thảo
Kẻ thất Bại Ngoan Cường
Văn Cao vĩnh viễn ra đi vào lúc 4 giờ sáng thứ hai ngày mùng mười tháng bảy năm 1995. Có thể chỉ là mấy ngày trước khi Mỹ công bố quyết định thiết lập bang giao toàn diện với Việt Nam. Có thể chỉ trước mấy ngày lễ kỷ niệm Cách Mạng Pháp ngày 14.7. Có thể... Nhưng Văn Cao chỉ là một nghệ sĩ. Một người làm nhạc, làm thơ, vẽ tranh, một người uống rượu, thường là thứ rượu người nông dân Việt Nam tự cất lấy. Dù nó mang tên Làng Văn hay Bàu Đá. Tôi bóc để giữ lại tấm lịch ngày 10.7. Tình cờ, tôi đọc được một dòng chữ thông thái biếu không, in trên tấm lịch: "Kẻ thất bại bao giờ cũng sai" (Ngạn Ngữ Anh). Câu này có gì ứng với cuộc đời Văn Cao? Người ta sẽ cười vào mũi tôi. Nhưng Văn Cao có bao giờ thất bại! Vâng, người ta có quyền nói mạnh như thế, nhưng với tôi, tôi có cảm giác, người nghệ sĩ thường là người thất bại. Không phải thất bại trong một cuộc chiến đấu, hay thất bại trong tiền bạc, danh vọng, hay tình yêu. Đây là thất bại từ bản chất. Cái bản chất của một người phải húc đầu vào mọi bức tường, cái bản chất của người ý thức được khoảng cách giữa cái có thể và cái không có thể, một khoảng cách thường làm nên những cơn khắc khoải, và đôi khi, là nỗi tuyệt vọng. Tôi nghĩ, Văn Cao là một nghệ sĩ như vậy. Và tôi kính trọng, yêu mến ông, cũng chính vì ông như vậy.
Bây giờ, ông đã im lặng, một sự im lặng có điều kiện, như chính nghệ thuật của ông. Cũng chẳng nên nói gì nhiều. Nếu không có những người nghệ sĩ dám chịu thất bại, ngoan cường trong thất bại, thì lấy đâu ra chiến thắng của nghệ thuật. Văn Cao, trọn cuộc đời, đã đấu tranh, kiên nhẫn, cam chịu trong nghệ thuật. Những năm cuối đời, dường như người ta muốn an ủi ông, muốn ông được ngẩng cao đầu, đi lại bệ vệ như một người chiến thắng. Khốn nỗi, Văn Cao quá ốm yếu, tinh thần ông quá bé nhỏ cho những cuộc trình diễn ngoạn mục như thế. Ông vẫn ngồi trên chiếc giường cá nhân, bé nhỏ, gầy yếu. Ngồi và trôi. Trôi và thơ. Thơ và cam chịu. Ông chấp nhận mọi điều, trừ sự thất bại của chính nghệ thuật. Một nghệ thuật mà vì nó, ông cam đành thất bại. Sau ông, còn không ít những người thất bại. "Kẻ thất bại bao giờ cũng sai?" Ừ, thì sai! Kẻ thất bại bao giờ cũng khổ ư? Ừ, thì khổ! Nhưng có niềm hạnh phúc nào cho kẻ thất bại không? Bây giờ, từ trong im lặng, Văn Cao đã có thể trả lời: Có chứ!
Nguyễn Hoa Tươi
Thế Giới, Phản Thế Giới Trong Văn Mai Thảo
Đêm chủ nhật 30/7/1995, trong tinh thần tự phát rất văn nghệ, nhà thơ Du Tử Lê và bạn hữu tổ chức buổi văn nghệ "Đêm Mai Thảo và 14 năm Tạp Chí Văn", ở Westminster Auditorium, địa chỉ số 7375 Westminster Ave, nơi góc Westminster và Hoover, từ 8:30 tối đến 11:30.
Từ một tuần trước đó, các cơ quan truyền thông đề cập nhiều đến Mai Thảo, bàn về sự đóng góp của Mai Thảo cho nền văn nghệ Việt Nam, tán về tật lưu linh của ông và cung cách đọc thơ sảng khoái của ông. Dịp này, rất nhiều bạn đọc, và ngay cả giới phê bình, đã nhận định "yêu thơ Mai Thảo hơn văn Mai Thảo", cho dù Mai Thảo chỉ mới cho ra đời và cho ra đời rất trễ có một tập thơ, với nhan là "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền", mà lại cho ra đời ở ngoài nước, và tác giả lại, khó khăn đến độ, thề là sẽ không cho ra đời tập thơ thứ hai.
Lời nhận định "yêu thơ Mai Thảo hơn văn Mai Thảo" gợi lên ở người đọc hai ý tưởng trái ngược. Phải chăng tập thơ Mai Thảo đã cứu vãn sự nghiệp văn nghệ của ông, và như thế lời nhận định trên, một phát, rũ sạch tất cả văn xuôi Mai Thảo để chỉ còn giữ lại ở ông chất thơ Mai Thảo? Hay là, ngôn ngữ văn Mai Thảo đã đạt đến đỉnh của nó ở ngôn ngữ thơ Mai Thảo, và tập thơ của ông là cái "nhất điểm linh thông", là cái điểm lạ (nói theo thuật ngữ của Hawking) từ đó bắt nguồn cuộc đại bùng nổ hình thành không gian văn Mai Thảo?
Các ý tưởng trái ngược trên cũng dễ hiểu, vì tính tự-động-của-ngòi-bút trong chuyện dài Mai Thảo, vì cấu trúc đặc thù của không-gian-văn Mai Thảo. Một người đàn ông, nghề nghiệp không có, ăn không ngồi rồi, nhưng gặp người đàn bà nào, ông ta cũng đều có khả năng rút ra trao một chuỗi ngọc trai. Người đàn ông đó là một nhân vật trong truyện của Mai Thảo. Tiền ông ấy đào đâu ra mà tiêu lắm thế? Mai Thảo không giải thích và cũng không hề cho ông ấy một cái gốc giàu có để người đọc có thể tự suy đoán - nhằm biện minh cho hành động của nhân vật - rằng ông ta hưởng gia tài do bố mẹ để lại chẳng hạn. Trong một truyện khác, Mai Thảo đưa vào truyện hình ảnh một người đàn ông, mặc bộ áo vét màu tím, đứng ở phi trường để chờ một chuyến bay ra nước ngoài. Ở chân ông là một chiếc va-li trên dán đầy những di tích của các nước ông đã đi qua. Có lẽ không một người đàn ông bình thường nào ở thời đại chúng ta lại có hành động dán stickers về các nơi mình đi qua lên va-li một cách quái gở như thế. Không hề gì, Mai Thảo vẫn đưa họ vào truyện, và cũng không cần giải thích về gốc gác cũng như cung cách ứng xử lập dị của họ, là vì "chàng là một loài chim lạ".
Tuy nhiên, nhìn như thế là nhìn hiện tượng. Là quên đi đứa bé trong tùy bút "Chuyến Tàu Trên Sông Hồng", tùy bút phác họa "Thế giới Lý niệm" của Mai Thảo. Như một nhóm người ngồi trong một hang động, trước mặt là ngọn lửa dùng để sưởi ấm. Họ ngồi xoay lưng ra ngoài cửa hang. Bên ngoài cửa hang là gì, họ không biết, nhưng họ ý thức sự hiện diện của thế giới ngoài cửa hang do hình ảnh ngọn lửa phản chiếu trên vách đá của hang động.
Không gian văn chương Mai Thảo là những hình ảnh nhảy múa đó, những hình ảnh phản chiếu những mảng của giấc mơ Mai Thảo, giấc mơ mà hình ảnh trọn vẹn, ông để ở ngoài không gian văn chương Mai Thảo.
Không gian văn chương Mai Thảo là phản thế giới của thế giới ông đang sống. Phản thế giới đó đóng vai trò tác nhân tự động thăng bằng hóa trong đời sống Mai Thảo. Một thoáng mơ, một chớp hồi tưởng, một mùi hương gợi nhớ, một cơn vượt thoát tâm thức, Mai Thảo để cả vào phản thế giới của ông, và xây dựng phản thế giới đó theo cái tính tùy của cái chớp-mơ-nuối-tiếc, của mùi-hương-tưởng-nhớ, của cơn-vượt-thoát-cố-níu-lại, của ước-mơ-chợt-đến. Tính tùy đó bao phủ văn chương Mai Thảo và cũng là triều nguyên của những đoạn văn đậm đặc chất thơ đặc thù Mai Thảo và là gốc nguồn của những điểm tùy trong truyện dài của ông.
Phác họa phản thế giới đó, Mai Thảo đẩy tính tùy lên tận cùng. Ông cùng lúc xô đẩy trong phản thế giới đó những nét tung tả chân, những đường hoành ấn tượng, những chấm điểm lập thể, những phác họa tự động.
Xô đẩy mãi cho đến lúc ông hoàn thành tập thơ "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền". Dù rằng Mai Thảo đã có lúc xưng-tội-văn-nghệ với nhà thơ Du Tử Lê rằng ông là một nhà thơ thất bại (poètre raté theo lối nói của ông), nhưng tập thơ đã được người đọc đón nhận nồng nhiệt, và chính tập thơ này đã nối liền thế-giới-như-nhiên và phản-thế-giới-như-nhiên của ông, là bí kíp công phu để Mai Thảo đi về giữa hai thế giới đó.
Do đó, với chúng tôi, khó mà có thể "yêu thơ Mai Thảo hơn văn Mai Thảo", khi mà tất cả là một tổng thể không chia lìa của những đi về (có thể cũng cùng một nghĩa như nhau theo thuật ngữ của Du Tử Lê) giữa thế-giới-như-nhiên Mai Thảo và phản-thế-giới-như-nhiên Mai Thảo, mà tập thơ là chiếc-cầu-ý-niệm nối liền hai thế giới đó.
Last modified on 11/05/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC