THƠ, NGÔN NGỮ / VÀ CUỘC ĐỜI

Phan Tấn Hải

 

 
 

 

 

 

 

 

Một thời khi chúng ta mới làm những bài thơ đầu trong đời, ngôn ngữ là cái gì tạo cho chúng ta niềm tự tin, như chiếc cầu bắc ngang giữa lời và thực tại, giữa điều muốn bày tỏ và lời bày tỏ. Ngôn ngữ ở đây minh bạch, hiển hiện hệt như ngón tay chỉ trăng.
Ngón tay vững vàng đưa về một hướng, với lòng mình (cứ cho như là) sáng tỏ như trăng rằm.

Thơ ở đây thực là hồn nhiên, như thường tin rằng có thể nói được một thế giới thực với một thế giới khái niệm qua chiếc cầu ngôn ngữ. Nơi đây hoa là hoa, và lá là lá. Và ngay cả khi hoa tàn lá rụng thì lời cũng còn đắc dụng, khả dĩ gợi lên được nơi lòng người đọc niềm thương cảm về một thế giới ngắn ngủi, hư vô, bất toàn. Ngôn ngữ ở đây sẽ là, thử dùng cách nói của điện toán, điều-bạn-thấy-sẽ-là-điều-bạn-được. Nghĩa là, ngôn ngữ là cánh cửa sổ trong sáng, là tấm gương phản ảnh (dù hay hoặc dở) về thực tại.

Nhưng khi chúng ta bắt đầu nghi vấn về chính chiếc cầu ngôn ngữ thì thơ thực sự không còn có thể đứng vững như cánh cửa sổ hoặc tấm gương trong sáng nữa. Ngôn ngữ thơ tự thân không còn là ngôi nhà bình yên.

Thử nói về KiềuChinh Phụ Ngâm.

Chúng ta có thể tin rằng Nguyễn Du không ngờ vực gì về ngôn ngữ sử dụng. Ông đã chỉ băn khoăn, thương cảm về thế giới thơ của ông, về nàng Kiều, về sông Tiền Đường, về cách nào cho Từ Hải chết thật anh hùng; và quan tâm ngôn ngữ của ông chỉ diễn lại, trình bày lại, hoặc hư cấu thêm, hoặc sáng tạo ra cách hình ảnh thẩm mỹ. Nguyễn Du có thể tự gọi mình là lời quê, nhưng vẫn ngầm biểu lộ rằng ngôn ngữ mình vẫn là những nhịp cầu đưa người đọc tới với thế giới sáng tạo (thế giới khái niệm) của mình, ít nhất thì cũng trong cách gọi là mua vui cũng được một vài trống canh.

Nguyễn Du không bao giờ chất vấn về chính thế giới tự thân của ngôn ngữ.

Trường hợp Chinh Phụ Ngâm cho thấy cụ thể hơn cách người xưa tin vào khả năng ngôn ngữ và chuyển ngữ. Nguyên bản chữ Hán do Đặng Trần Côn sáng tác, và dịch sang chữ Nôm do bà Đoàn Thị Điểm (bà Đoàn hay ông Phan thì cũng được, không quan hệ gì nơi đây). Bản dịch có nơi còn hay hơn nguyên tác. Nhưng điều chúng ta thấy là có một thế giới khái niệm được mô tả bằng chữ Hán, và thế giới này được mô tả lại bằng chữ Nôm. Cả tác giả và dịch giả đều không vật vã gì về ngôn ngữ (mà chỉ đánh vật, như chúng ta bây giờ đoán, với cách dùng ngôn ngữ), không băn khoăn tại sao phải có lời hoặc vô ngôn (chuyện này bây giờ, như sách vở ghi, được để riêng cho các ông Thiên Sứ), không thiết tha gì chuyện quan hệ giữa lời và khái niệm (thời kỳ này nhà ngữ học Ferdinand de Saussure chưa ra đời). Và cũng may là văn hóa hai nước Hoa, Việt còn quá gần nhau nên khi chuyển ngữ, người dịch (và cả người đọc) không mệt nhọc gì chuyện chuyển di hệ thống tiền tệ ngôn ngữ của nền văn hóa này sang nền văn hóa kia.

Ngôn ngữ thời kỳ đó, và phần nào cả thời này, vẫn là một thứ tiền tệ, là chiếc cầu giữa văn hóa và thực tại. Ngôn ngữ nơi đây thực sự là phương tiện; Không ai nhìn ngôn ngữ là cứu cánh, dù là để tán dương hay đánh phá.

Như vậy, chiếc cầu ngôn ngữ đã bắc nhịp giữa thơ (thế giới trừu tượng) và thực tại (thế giới cụ thể).

Nhưng điều gì có thể là dị biệt giữa các quan điểm thơ cũ và thơ mới? Hình như nơi đây, phần nào và có thể cũng chỉ là phần nào, chúng ta nhận ra dị biệt này.

Trong thơ cũ -- tạm gọi là thơ cũ, theo cách phân loại thời gian, cho quan niệm diễn giải sau -- ngôn ngữ mang chức năng trừu tượng hóa một chuyện xảy ra ngoài đời (như Nguyễn Bính kể chuyện nhà thơ Hành Phương Nam) hoặc một chuyện mơ mộng, tưởng tượng (có thật trong thế giới tư tưởng nhưng chưa xảy ra ngoài đời, như Mai Thảo thấy hình ta những miếu đền) hoặc để dạy đời trực tiếp hay bằng ẩn dụ (thơ ngụ ngôn hoặc thơ của các vị Đông Du), đưa tất cả trở thành chữ, thành bản in, vào đời, tiếp xúc với người đọc, nghĩa là biến trở thành một hiện thể trong thế giới thực tại.

Nhưng thử cứu xét đoạn thơ sau của Đặng Đình Hưng, trong "Bến Lạ":

Song song, một từng đôi
Vải, và cái thước mét. Con jơi đực, và tàu lá chuối hột
Mắt đẹp, và sa mạc tờ croquis kẽ chậm
những đường chỉ cuộn ốc...

Theo Tự Điển Thi Ca (The Poetry Dictionary của John Drury, nhà xuất bản Story Press, 1995, trang 153) thì có thể xếp đoạn thơ trên là list poem (thơ liệt kê), vì nhà thơ chỉ liệt kê một loại sự vật -- tương tự như nhiều bài thơ của Walt Whitman. Tuy nhiên thử đọc lại, chúng ta thấy không đơn giản chỉ là những danh mục như khi lật nhanh một quyển tự điển sự vật.

Và nếu đặt đoạn thơ trên vào lại văn mạch, với đoạn thơ trước viết là:

Bến lạ gác chân lên những hình lăng của cái đồng hồ quả lắc khệnh
khạng đưa những quả thịt chậm chậm song song với những cái chai
không, chia những bộ đùi e lệ lạ và trí tuệ bông hoa ngây ngủ
ngày ngay bến lạ.

Và với đoạn thơ dưới nó:

Tôi đi đây, đi tìm chơi với
cái nút chai
Nhưng không! hãy nói chuyện
Thì ra thèm muốn là một thỏi fấn tắm nước nóng cọ bàn chân khô
lau cái khăn
không

Điều thấy ngay như vậy, đoạn thơ trên không chỉ là liệt kê như trong Kinh Thánh Cựu Ước liệt kê tên và dòng họ. Đoạn thơ trên không có gì như muốn trừu tượng hóa một chuyện xảy ra để biến thành một hữu thể thi ca (không có gì gọi là kể chuyện), không có ý gì ghi lại một tư tưởng, một mơ mộng, một tưởng tượng, một ẩn dụ, và có thể là hoàn toàn không có ý gì cho ngôn ngữ làm một nhịp cầu.

Nơi đây, tự ngôn ngữ ngưng lại nơi chính nó, hoặc có thể nói khác, nó xóa hẳn biên giới giữa thế giới thơ và thực tại. Và vì ngôn ngữ tự ngưng nơi chính nó, nên tất cả những cách viết như con jơi thỏi fấn không phải là lập dị nhưng tự chọn chính ngôn
ngữ làm thế giới duy nhất. Không có gì để khai sinh ra nó và cũng không có gì khác để nó phải hoàn thành. Tự thân nó ngưng lại, đùa giỡn, bơi lội, phá phách, và hoàn thành chính mình.

Không phải như vậy là loại thơ mới này vô nghĩa, mặc dù chúng ta không biết chắc đã có thể hiểu đúng ý nhà thơ - câu hỏi là, thực sự nhà thơ có thực hiểu được đúng và diễn được đúng ý anh ta hay không.

Tới đây, chúng ta bị xô ngay vào một trận thế của ngờ vực. Chắc chắn là Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Bính hiểu rất minh bạch điều họ suy nghĩ, viết, và những gì muốn đạt tới. Nhưng còn khi các nhà thơ đương thời xóa hẳn biên giới giữa thực và mộng thì không ai bảo đảm được thế nào là hiểu đúng với hiểu sai, dĩ nhiên kể cả nhà thơ. Đây thực sự là thế giới của mù sương.

Thế giới mù sương của ngôn ngữ cũng chính là thế giới mù sương của tư tưởng, và cũng có thể là chính thế giới thực của con người. Chúng ta không có ý nói rằng các nhà thơ đương thời nhìn được thế giới mù sương của thực tại, nhưng có lẽ họ không còn tin vào một vũ trụ minh bạch (như của Descartes, Newton) là thực nữa khi tự thấy mình sống giữa một vũ trụ mù sương, mâu thuẫn, khó hiểu, tương đối (như của Einstein, Bohr).

Điều vừa nói cũng không liên hệ gì tới loại thơ siêu hình (metaphysical poetry) vì hoàn toàn không có nghĩa gì tôn giáo ở đây.

Nhưng thế giới thơ nơi đây không còn biên giới nữa, dù là biên giới giữa thế giới trừu tượng hay cụ thể, thực hay mộng, mà ngôn ngữ đã chính là toàn thể, là tất cả thế giới, là toàn bộ vận mệnh con người. Nó không đến bằng lời, nhưng đã hít thở, nhào lộn, đập từng nhịp tim trong từng cử chỉ nhà thơ và lăn lóc ngay trên vỉa hè. Nơi đây, không có gì phân biệt giữa thơ với ngoài thơ, và nó chính là đời sống, cũng bí ẩn như muôn chuyện khác trên đời.

Và thơ, cũng bí ẩn như muôn chuyện khác trên đời.

 

 

 

Last modified on 11/05/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC