NHÌN THEO MẤY...

Khế Iêm

 

 
 

 

 

 

 

Thơ được kiến tạo từ khoảng không và phải đối đầu với chính thế giới nó kiến tạo ra. Chưa bao giờ thơ được giải phóng khỏi những ràng buộc của những chế độ chính trị và những đám đông cuồng nhiệt khác. Và vì thế thơ đứng trước một thách đố mới: nắm bắt và chế ngự khoảng không đó, cuộc chiến tranh với một đối lực dấu mặt.

Một nghịc lý, thơ đánh động thực tại, không hề là sự trốn chạy thực tại. Vì chưa bao giờ chúng ta bắt kịp thực tại và cũng bởi một điều, chỉ có thực tại chứa đựng sự thật. Và chừng như sự thật chưa bao giờ có thực. Một biến cố xảy ra, sự thật xuất hiện trong chớp mắt rồi biến mất. Người làm thơ, trong một khoảnh khắc hiếm hoi, bắt được nó, và dĩ nhiên, muốn vậy, hắn phải cận kề với đời sống. Hắn là kẻ săn tìm sự thật.

Thơ ở chung quanh ta, không ở đâu xa.

Thơ Việt Nam bao năm qua là những ảo giác và quên lãng. Người viết và người đọc cùng đi tìm cái mộng, đối nghịch với cái thực. Và vì vậy người làm thơ có thể tìm thơ ở nhiều nguồn, cảm xúc và ngôn ngữ. Không có ranh giới nào giữa thơ và triết lý, tôn giáo, thậm chí chính trị. Điều này đưa tới, chúng ta dễ dàng vay mượn những thứ khác để làm thơ và giải thích thơ. Thơ đánh mất đi chất sống, kinh nghiệm và sáng tạo. Một cách khác, thơ chứa đựng mọi điều khả dĩ.

Kinh nghiệm thơ, hẳn là một tiến trình của tu tập, một cách lần tìm về cội nguồn (cội nguồn nào?) đồng thời cũng vươn tới mai sau. Điều lạ lùng thay, chúng ta cùng lúc bắt được cả hai chiều thuận nghịch của thời gian, và cùng một lúc hóa giải sự chi phối của thời gian. Quay về cội nguồn chẳng phải là quay về dân tộc (cái chữ đã bị bào mòn và trở thành vô nghĩa), mà quay về những thời điểm độc sáng của thơ ở mọi nơi, mọi thời để tìm kiếm kinh nghiệm (không phải là kiến thức). Vả chăng, chúng ta chỉ nhìn thấy tương lai khi đã thấu hiểu quá khứ. Và vì vậy, thơ cũng cần thời gian để ủ chín (1).

Mỗi thời đại có cách ứng xử khác nhau về đời sống và nghệ thuật. Cái hay ở thời này chưa hẳn là cái hay của thời khác. Cách nhìn của thời này chắc chắn sẽ khác với thời khác. Từ bao lâu nay, chúng ta vẫn nhìn thể thơ (form) là những lục bát, bảy chữ, tám chữ của thời thơ mới. Mục đích của thể thơ cũng chỉ là để chắt lọc chất thơ, kinh nghiệm và cảm xúc. Vì thế, chúng ta có thể tìm ra cách để làm công việc đó. Phá bỏ những khuôn mẫu cũ, là một cố gắng đốt thành tro mọi lề luật trói buộc và trả cho thơ sự tự do. Tự do chúng ta hiểu ở đây là người làm thơ tự định đoạt lấy số phận của chính mình, gỡ cái vòng kim cô từ bấy lâu nay chúng ta vẫn vô tình hay cố ý, tròng vào đầu (dù nó chỉ còn là chiếc vòng tre). Khi thể thơ không còn là vấn đề quan trọng, sắp xếp lại trật tự của câu chữ, can thiệp vào nội dung, cũng có nghĩa là chúng ta đi tìm một cấu trúc mới (structure) cho thơ.

Ngôn ngữ thơ là tình, ý hay chữ. Tình thì dễ hụt hơi. Tình hay cảm tính, giống như tiếng khóc đầu đời chưa thốt thành lời, một loài hoa chớm nở, sớm tàn. Ý và chữ mới chỉ là chất liệu, chưa thể là ngôn ngữ thơ. Và cũng vì chữ là phương tiện duy nhất, qua đó bài thơ tỏ hiện, người làm thơ dễ mắc vào trong chiếc bẫy sập, mài dụa và làm bóng bẩy chữ. (Chúng ta chỉ bắt được ngôn ngữ kiến trúc khi nhìn thấy toàn thể một tòa nhà). Sự nô lệ về ý thức, kiến thức và chữ đưa tới bế tắc. (Thật ra, chơi chữ là một kỹ thuật thơ, nếu lạm dụng chỉ tạo nên những âm thanh lạ). Giải phóng sự nô lệ cũng là mở chiếc lồng thả con chim về với trời xanh. Chúng ta không phải chỉ là những người chạm trổ hoa văn, mà là những người phóng chiếu được một cái nhìn về thế giới chung quanh (Create a new vision). Thế giới đó, dù cho vô nghĩa, chúng ta vẫn phải tìm cho nó một ý nghĩa. Ý nghĩa đến từ những ánh chớp của rung động và khát vọng của mỗi con người, trong cảnh hỗn mang (2).

Và vậy, phải chăng ngôn ngữ thơ chính là ngôn ngữ của đời sống? Chúng ta có quyền hoài nghi bởi mọi xác quyết về thơ đều mang tính khiên cưỡng. Nhưng đời sống thì muôn mặt, bất thường, khó bắt dù rằng dễ cảm thông. Trong khi chữ tạo ra những trở ngại khó vượt qua và người làm thơ chỉ còn cách... như ngón tay trỏ trăng. Một định hướng, động tác (action) có thể là một thứ ngôn ngữ của đời sống? Bởi vì những biến đổi của nền văn minh, hủy diệt hay tái tạo đều do những hành động của con người. Động tác, hay Thơ Động Tác (Action Poetry) nếu có thể nói như thế, tạo nên những xung động, có trước lời nói và chữ viết, là khởi thủy của đời sống và là nguồn cội của mọi nguồn cội. Đối nghịch với sự chết, im lặng là một dạng của động tác, và hơi thở, tiếng nói nguyên sơ từ đó đưa thơ vào thế giới con người. Người làm thơ, chưa bao giờ, phải sống qua nhiều cảnh huống khác nhau, đoạn tuyệt và nẩy sinh; làm trống thơ có nghĩa là tước bỏ những rườm rà không cần thiết: chấm phẩy (punctuation), chủ từ (tôi) và mỹ từ, nước sơn óng ánh của sáo ngữ, và gạn lấy những cảm xúc chân thực. Đã hàng thập kỷ, chừng như chúng ta vẫn bị lừa mị bởi những mỹ từ, và thơ bị tẩm độc. Người làm thơ, vô tình tạo dựng một thế giới hàng mã, tránh né những gai góc của đời sống. Đến lúc, thơ cựa mình, bước ra khỏi trạng thái ý niệm để lao vào cõi thế sinh động và đặt lại tiền đề, lật ngược quan niệm thẩm mỹ cũ. Thơ đã chứa mầm phản động từ căn cỗi. Và cũng vì thơ không còn có nhu cầu đọc thuộc, mà tùy theo những chấn động mạnh hay yếu, lâu hay mau, ám ảnh người đọc. Động tác trong tâm thức thơ manh tính tỉnh thức và nếu đẩy tới cùng, biết đâu thơ sẽ bay một đường bay không ngờ trước. Bởi thơ là cuộc phiêu lưu đầy bất trắc và chẳng bao giờ thấy được bến bờ. Làm trống rỗng chính mình, như rừng cây tới kỳ thay lá, và thử lắng nghe trước khúc rẽ đổi thay, vì dù có nói bao nhiêu chăng nữa, thơ vốn không lời. Chắc chắn, mỗi người làm thơ, bằng những chiêm nghiệm thực tại, tìm bắt ngôn ngữ cho riêng mình. Không có cái nhìn khác về ngôn ngữ, thơ sẽ cứ mãi quẩn quanh nơi những ngõ hẹp. Sự trầm tư về ngôn ngữ thơ là một hành trình cam go, và nhà thơ là kẻ cầm con dao hai lưỡi.

Đổi mới về ngôn ngữ và thể loại, thơ cần kỹ thuật (technique), không phải kỹ xảo. Kỹ thuật khi đến cao độ, nhập vào nội dung, tưởng như vô kỹ thuật. Lại nữa, khi kỹ thuật chuyên chở một ý nghĩa, có thể là bài thơ thứ hai, tạo cảm xúc mạnh nơi người đọc và mở ra những không gian nhiều chiều, cuộc luân vũ giữa tiếng nói và lặng câm, giữa âm thanh và thể cách.

Nhà thơ là kẻ gửi đi những tín hiệu. Một tín hiệu mạnh sẽ truyền đi xa và được nhiều người tiếp nhận. Một tín hiệu yếu chỉ được một vài người tiếp nhận. Một tín hiệu mà không ai tiếp nhận thì chưa thể thành tác phẩm, đó là lỗi của người làm thơ. Điều này đưa tới một hàm ý, thơ trực tiếp với người đọc và người làm thơ dành lại quyền, một cách thoải mái, phát biểu về thơ. Sẽ là thiếu sót nếu không có gì để nói hay chỉ lập lại những gì đã trở thành chân lý. Vai trò của người diễn giải (cũng là một dạng người đọc) vì một chủ quan, dễ gây ngộ nhận và làm sai lạc sự thưởng ngoạn. Thơ vì thế, cũng có những nỗ lực đi tìm kiếm người đọc. Nhưng hình bóng người đọc càng ngày càng trở nên vô hình bóng. Ngay chính tác giả, khi chấm dứt một bài thơ, ngay lập tức trở thành người đọc của chính thơ mình. Sự thuận lợi chỉ có, bằng một ít kinh nghiệm còn rơi rớt lại, dễ dàng phát hiện ra những yếu tố mới. Tiến trình bài thơ là tiến trình của một mùa gặt. Chỉ khi nào xong, chúng ta mới biết có được mùa hay không. Người làm thơ tiếp cận người đọc qua linh cảm và chỉ qua đó, bài thơ hiện hữu.

Tôi vẫn nghĩ tới hai điều trái ngược, chúng ta là những người trong một làng cùi (3), và là những đứa con của bà mẹ vĩ đại (4). Hai hình ảnh vừa tiêu cực (negative) vừa tích cực (positive), vừa bi đát vừa hoành tráng tạo nên hình tượng nhà thơ. Nghệ thuật, phải chăng, luôn luôn đi trước hoặc sau những biến cố, và chúng ta đang tìm kiếm những gì ở đằng sau tấm gương?

Chú thích
(1) Ezra Pound: "Most important poetry has been written by men
over thirty."

(2) Lucien Carr: "It was trying to look at the world in a new
light, trying to look at the world in a way that gave it some
meaning. Trying to find values... that were valid."

(3) Ý Phan Tấn Hải.

(4) Mượn một nhan đề truyện ngắn của Gabriel Garcia Márquez.

 

 

 

Last modified on 11/05/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC