Vườn Thu
(Firenze)
Vườn ảo hoặc nguyệt quế câm
kết bằng các vòng xanh
mảnh đất mùa thu
chào vĩnh biệt!
nơi mấy triền đồi trọc
ráng chiều đỏ rực
đời sống xa xăm gào gọi khản hơi:
vầng dương đang hấp hối
trên những vồng hoa thẫm máu
trổi lên tiếng kèn đồng
chói lói: dòng sông mất hút
vào dải cát vàng: lũ tượng trắng
đứng ở đầu cầu lặng lẽ
quay đi: và sự vật không còn có thật
như bản đồng ca tráng lệ dịu êm
từ đáy sâu niềm im lặng dâng cao
phả vào bao lơn tôi
với mùi nguyệt quế vấn vương
trong thoáng hương ngát không rời
giữa đám pho tượng bất tử trước hoàng hôn
ngay khoảnh khắc này đây
nàng hiện ra cho tôi thấy
Dino Campana
Vườn thu là một bài thơ toàn bích trích từ tập Canti Orfici (1), thi phẩm hiếm lạ báo hiệu sự ra đời của thơ Ý hiện đại. Không được may mắn như Ungaretti hoặc Saba, Dino Campana (xem tiểu sử cuối bài) là một poète mandit đúng nghĩa, một thi tài có cuộc sống và tâm tính thất thường nhưng đã nói lên được tiếng thơ đầy hoang mang và khát vọng mở đầu một thời đại mới.
Đây là một kết hợp hài hòa giữa truyền thống và cách tân, mang tính gạch nối giữa hai xu hướng thẩm mỹ thơ khi các phái lãng mạn, tượng trưng bắt đầu nhường thi đàn cho những trào lưu văn nghệ mới ở Âu Châu vào lúc thế kỷ 20 ló dạng. Từ đầu bài cho đến đoạn "vầng dương đang hấp hối trên các vồng hoa thẫm máu", bài thơ tắm trong không khí lãng mạn pha cổ điển. Ngoại trừ một chữ phá lệ như "ảo hoặc" (spectralle) trong câu đầu (2), các ý thơ mùa thu, tà dương, nguyệt quế, đời sống xa xăm, không có gì độc đáo. Đột ngột, "trổi lên tiếng kèn đồng", và chúng ta lọt vào một không gian khác lạ. Tính hiện đại của bài thơ được cô nén trong mấy câu sau đây:
trổi lên tiếng kèn đồng
chói lói: dòng sông mất hút
vào dải cát vàng: lũ tượng trắng
đứng ở đầu cầu lặng lẽ
quay đi: và sự vật không còn có thật.
Từ bức tranh Vườn Thu với cảnh vật bao quanh vào lúc tà huy mở đầu bài thơ, người đọc bất ngờ rơi vào bản nhạc chiều (serenata) khi tiếng kèn đồng trổi lên. Sự xáo trộn giác quan từ nhãn giới sang thính giác gây nên hụt hẫng trong cảm quan và ý thức. Khoảnh khắc ấy là cơ hội lý thú cho óc liên tưởng nhãy vào tham gia để tạo mạch nối giữa con mắt và lỗ tai, thiết lập phương trình thi ca mùa thu = lời chào vĩnh biệt! = vầng dương hấp hối = đời sống xa xăm gào gọi = tiếng kèn đồng chói lói. Đến đây thì tứ thơ trở nên siêu thực với ý tưởng xuất thần "... lũ tượng trắng đứng ở đầu cầu lặng lẽ quay đi". Chỗ tài tình của nhà thơ là sự chuẩn bị từng bước rất tự nhiên để dẫn dắt người đọc đến khúc ngoặt lớn này:
... và sự vật không còn có thật.
Mời các bạn thong thả đọc lại đoạn đầu Vườn Thu để trầm tư với thi sĩ về nỗi tàn phai khi thu về, khi chính không gian tà dương cất lên lời chào vĩnh biệt, khi vầng dương hấp hối báo hiệu phút hạ màn của vở kịch sắc không. Bởi vậy, dù cho 01 thì dòng sông vẫn trôi mất hút, lũ tượng vẫn lặng lẽ quay đi... Khi ngày tàn như một giấc mơ, khi nắng tà cuối thu là lời vĩnh biệt cuộc đời thì "sự vật không còn có thật" là một mệnh đề tất nhiên, chẳng cần bàn cãi thêm.
(So sánh với bài thơ Vườn Boboli, tiền thân của bài Vườn Thu, được phát hiện sau này trong một sổ tay của Campana, các nhà khảo cứu nhận rõ sự trưởng thành về mặt thẩm mỹ ở nhà thơ, cộng thêm ý thức tự phê bình cao khi ông vứt bỏ không ngần ngại mấy câu nhớ tiếc tình xưa rất lãng mạn nhưng thiếu tính độc đáo, thâm trầm để thay vào đó đoạn thơ cô đọng vừa phân tích ở trên (3). Bằng thủ pháp gián tiếp mượn sự vật để thể hiện nỗi niềm, nhà thơ đã tạo nên khoảng cách nghệ thuật sâu lắng giữa xúc động riêng tư và vũ trụ tự thân của bài thơ. Sự tự chế ấy đồng thời mở ra chiều kích mới cho quan hệ thi sĩ / độc giả. Thay vì thụ động đón nghe lời phát biểu của nhà thơ, người đọc phải giải mã các ý tưởng lạ, phải dừng lại lâu hơn giữa các câu chữ, nhạc điệu và thi tứ để phát hiện ý nghĩa tiềm ẩn, phong phú như một kho tàng dưới nhiều lớp địa tầng). Xét về mặt hiện tượng, đặc biệt dưới con mắt người đọc phương Đông, thiên nhiên là một tuồng ảo hóa, và sự vật có đó mà cũng như không.
Câu chuyện tuy vậy chưa kết thúc, ít ra là với nhà thơ, với người nghệ sĩ. Mùa thu và hoàng hôn là hai cánh cửa dẫn vào một thời tính khác được nhắc gợi với "mùi nguyệt quế vấn vương" và "các pho tượng bất tử". Sau tiếng kèn đồng chói lói của sự vật và đời sống là "bản đồng ca tráng lệ dịu êm" của niềm im lặng, của sự thăng hoa nghệ thuật giờ phút linh thiêng của sáng tạo và cải tạo, khoảnh khắc.
nàng hiện ra cho tôi thấy
Bài thơ Serenata này đồng thanh khí một cách lạ lùng với bài
Harmonie du soir của Baudelaire. Ở đây là những đóa hoa tàn héo, bầu trời tà huy, mặt trời chìm vào vũng máu, tiếng vĩ cầm não dạ, niềm nuối tiếc dĩ vãng, và kỷ niệm về nàng!...
chaque fleur s'évapore ainsi qu'un encensoir,
le violon frémit comme un coeur qu'on affige;
Valse mélancolique et langoureux vertige!
le ciel est triste et beau comme un grand reposoir.
....
Un coeur tendre, qui hait le néant vaste et noir,
Du passé lumineux recueille tout vestige!
le soleil s'est noyé dans son sang qui se fige...
Ton souvenir en moi luit comme un ostensoir! (4)
Dựa trên tính xung khắc Ngày/Đêm, Sinh/Tử, Hợp/Tan của thiên nhiên - sân khấu cho ý thức con người hữu hạn, bài thơ trữ tình này nói lên ám ảnh muôn đời của thi nhân bị dằn xé giữa khát vọng bất tử và cõi thế vô thường. Cái gì sẽ cứu chuộc con người khỏi bước đi vô tâm của thời gian và lẽ biến dịch của tạo vật? Phải chăng đó là tình yêu và nghệ thuật. Khi kỷ niệm được trí nhớ thăng hoa, khi Orpheus tìm lại được Eurydice, không phải nơi cõi âm phù mà trên các phương cảo?
Hè rồi tôi ghé chơi Firenze vài hôm trong chuyến du ngoạn nước Ý. Lúc ấy trung tuần tháng 8, tuy chưa vào thu nhưng các cánh đồng miền Toscana đang vào độ gặt, dòng Arno thong dong giữa mấy rẫy bắp và vườn ô-liu, trên thành quách đền đài xưa bồng bềnh những đám mây Địa Trung Hải. Theo bước nhàn du, những trang thơ văn của đất nước này cũng trở về trong trí nhớ, trong đó có bài Vườn Thu mà tôi đã dịch vài năm trước đó.
Khoảng ba, bốn thập niên về trước, xu hướng Tân Phê Bình thịnh hành ở Mỹ đề cao cách đọc văn bản như một thực thể trọn vẹn nghĩa lý, bất cần tiểu sử tác giả, bối cảnh văn hóa lịch sử, v.v... Chủ trương quá khích ấy giờ đây không còn bao nhiêu ảnh hưởng, dù vẫn được chấp nhận như một kỹ thuật cần thiết, chú trọng mặt phân tích các yếu tố cấu tạo hình thức bài thơ hoặc trang văn. Đối với người yêu chuộng văn chương lại có cơ hội tham quan các vùng đất văn hóa có tiếng trên thế giới, mối liên hệ mật thiết giữa địa lý, lịch sử, xã hội với tác giả và tác phẩm họ là một sự kiện không thể nghi ngờ. Nếu một sáng nào đó, giới chuyên gia khảo cứu
văn học thức giấc và thấy mình hóa làm nhà thơ nhà văn, có lẽ họ sẽ khám phá chân lý giản dị của những trang sáng tác bắt nguồn từ cuộc đời như cây cỏ vẫn mọc lên từ đất, mà không cần viện dẫn các "chủ nghĩa" rắc rối.
Ở Firenze tôi đã thăm vườn Boboli (khu vườn thượng uyển gợi hứng bài thơ Vườn Thu) rồi lang thang quanh khu vực hữu ngạn sông Arno. Một buổi chiều, tôi đã ngắm mặt trời xuống trên phố xưa; đằng sau mấy nhịp cầu Ponte Vecchio (cầu cổ), ráng chiều đỏ ối trên gạch ngói phong trần của những tháp chuông với gác canh. Bài Vườn Thu hiện về trong tâm khảm cùng mấy câu:
ngàn năm sực tỉnh lê thê
bên thành son nhạt chiều tê cúi đầu
Campana, Baudelaire, Lý Bạch, Huy Cận đồng loạt xuất hiện giữa các pho tượng bất động trước tà huy. Có thể có nhiều tiếng thơ nhưng hồn thơ và nàng thơ chỉ có một. Và các bài thơ phải chăng đều là bản dịch từ tờ kinh của biến dịch và tan hợp?
Đêm cuối cùng ở đây rời khỏi quán Caffé Perseo trước Palazzo Vecchio (Cung Điện Cổ, chỗ ở của dòng họ Medici thuở lập quốc), tôi thả bộ theo mấy đường nhỏ ghé từ giã Dante, tại ngôi nhà sinh thành của ông. Béatrice, Nàng Thơ của Dante, cũng ở gần đó, cách vài con hẻm. Từ thổ ngữ Toscana của mình, Dante đã cất kên tiếng thơ thời Phục Hưng, khai mạc cả một thời đại văn học huy hoàng không chỉ cho nước Ý mà cả Âu Châu. Firenze trở thành thủ đô văn hóa thế giới từ đó, và trong những pho tượng bất tử đã từng ghé đến đây, người ta có thể nhắc đến các nhà thơ nhà văn lớn nhất thế giới, từ Chaucer, Montaigne đến Dostoievsky, Emerson... Sau chuyến hành hương này, tôi tự nhủ sẽ đọc lại thơ ca nước Ý với con mắt đổi mới. Bài viết ngắn kèm theo bản dịch bài Vườn Thu trên đây là một lời đáp lễ nhỏ của tôi với thành phố Firenze và các pho tượng của nó, trong đó bây giờ dĩ nhiên phải kể thêm nhà thơ "sao chổi" Dino Campana.
Chú thích
(1) Canti Orfici - Canti có nghĩa là ca khúc, Orfici là tính từ
của Orpheus. Dịch thoát là Tiếng hát Orpheus hoặc Khúc ca
Orpheus. Nhưng từ Orfici hàm nghĩa tất cả các tập tục và xu hướng tôn giáo thờ thần Orpheus bắt đầu từ Hy Lạp thời thượng cổ. Vì Orpheus được Apollo tặng cây đàn và tiếng hát của chàng làm xúc động cả đá cây muông thú nên Orpheus được coi như biểu tượng của nghệ thuật và nghệ sĩ. Tiếng ca của chàng làm động lòng cả Diêm Vương khi Orpheus xuống cõi âm ti để xin lại vợ (Eurydice bị rắn cắn chết). Do đó Orpheus còn tượng trưng cho mối liên lạc giữa
cõi âm với dương thế, giữa sự sống và cái chết. Trong thần phả phương Tây, Orpheus giữ vị trí rất quan trọng vì có mối liên quan mật thiết với cả Apollo và Dionysos. Trong ngành tôn giáo học, một số kiến giải còn cho thấy mối liên hệ thần thoại giữa Orpheus và Christ. Về ý nghĩa của huyền thoại Orpheus đối với nghệ sĩ, có lẽ khảo luận của Paul Diel là đáng chú ý nhất (đọc le Symbolisme dans la mythologie grecque, Payot, (Paris, 1966) t. 136-143).
(2) Thật ra, từ ảo hoặc (spectralle) chính là mấy nốt nhạc báo hiệu cho tấu khúc của tàn phai, soi sáng cho ý thơ siêu thực phần cuối bài, kể từ đoạn "sự vật không còn có thật".
(3) Những câu lãng mạn trong bài Vườn Boboli mà tác giả lược bỏ sau này là:
Tôi gọi em: Lời em cất lên lần cuối là gì?
mùi hương nào em thích nhất?
giấc mộng nào làm em hoang mang nhất?
thoáng em nhìn bất trị, choáng váng, đam mê...
Bạn đọc có thể tham khảo "On the poetry of Campana" của thi sĩ Eugento Montale trong The Second Life of Art (New York, 1982), t. 61-74, để so sánh nguyên tác hai bài thơ.
(4) Đang tán gẫu về mấy câu thơ vừa là bản nhạc chiều tiêu biểu cho thơ hiện đại Pháp, Ý trên đây, trong đầu tôi bỗng âm vang mấy chữ
lạc nhật cố nhân tình
Vậy có nên tôn Lý Bạch làm tiền bối của thể loại serenata chăng?
Tiểu sử
Dino Campana (1885-1932) sinh trưởng ở Marradi, thị xã hẻo lánh lọt giữa hốc núi phía nam dãy Alpes. Cũng giống Rimbaud, chính địa lý quê quán là cội mầm của nỗi bất mãn, phá phách chống lại sự tù đọng tỉnh lẻ, đồng thời thúc dục máu phiêu lưu thèm khát các chân trời mới. Bắt đầu nổi chứng bất thường phải đi an dưỡng năm 15 tuổi vì căm hận bà mẹ thiếu tình cảm với con. Đến tuổi vào đại học, mặc dù ghi danh khoa Hóa, ông lại say mê siêu hình học Đức, thi ca Pháp với Tây Ban Nha, và tìm hiểu các phái mật truyền thờ Orpheus, nhà thơ của thần thoại Hy Lạp. Xuất dương lần đầu sang Nam Mỹ sau khi bỏ học năm 22 tuổi, ông lang thang kiếm ăn, làm nhiều nghề ở Argentina, trôi nổi theo các tàu hàng sang Odessa (Nga), Genova (Ý), Antwerp (Bỉ). Có lúc người ta gặp ông ở Rotterdam, Paris, Basel... Khi mỏi gót giang hồ, ông lại quay về góc núi ở Marradi. Lần này người bố làm hiệu trưởng tiểu học lại gửi gắm vào đại học ở Bologna, theo ngành Dược. Ông vẫn không chịu ngồi yên, lại bỏ Bologna đến Genova, rồi Firenze (Pháp, Anh gọi là Florence). Ở đây Campana bỏ học trước khi tốt nghiệp một năm để đeo đuổi cái nghiệp không trường ốc nào đào tạo được: nghiệp thi nhân.
Mùa thu 1913, trong cơn sốt sáng tạo vài tuần ra đời thi phẩm Canti Orfici. Nhà thơ cầm bản thảo độc nhất được hoàn tất vào tháng Chạp đi bộ theo đường núi khoảng 5, 6 chục cây số xuống Firenze. Tại các quán cà phê ở đây ông làm quen với giới văn nghệ và trao tập thơ cho Soffici (một học sĩ phái vị lai Ý) nhờ tìm nơi xuất bản. Ông cũng gửi thư cho Prezzolini, chủ bút tuần báo thời danh Lavoce (Tiếng Nói) ở Firenze. Chờ mãi không thấy ai liên lạc, hồi âm ông tuyệt vọng đòi Soffici lại bản thảo thì tay này cho biết đã làm thất lạc. Dù thương tổn muốn phát điên, ý chí của nhà thơ đã giúp ông phục hồi từ trí nhớ gần như nguyên vẹn cả tập, rồi nhờ một nhà in địa phương lo việc in ấn. Campana lại xuống Firenze, tự tay rao bán tập thơ trong các quán cà phê. Nhưng tính cách tiên phong của thi phẩm không tạo được sự hưởng ứng trong văn giới. Ngoại trừ một tri âm, nhà thơ gặp phải sự đàm tiếu của dư luận khi vài nhà báo tung tin đồn về chứng tâm thần của ông để tấn công tác phẩm.
Ít tháng sau Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ. Sau khi hội đồng Y Khoa tuyển quân phát hiện bệnh căn tâm trí vô phương chữa trị, ông được đưa vào một bệnh viện an dưỡng gần Firenze. Cũng như Holderlin, Nietzsche, Artaud, ông sống những năm cuối đời hoàn toàn biệt lập với đời sống bên ngoài, đơn chiếc như cái bóng đến từ cõi khác.
Last modified on 11/05/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC