Bóng Chữ của Lê Đạt

THỤY KHUÊ

 

 
 

 

 

 

 

Tập thơ Bóng Chữ của Lê Đạt do nhà xuất bản Hội Nhà Văn in name 1994 gồm 138 bài thơ, sáng tác trong khoảng thời gian trên 30 năm. Tác phẩm của một đời người và người đọc cũng không thể một sớm một chiều hiểu hết được. Thơ Lê Đạt nằm trong dòng thơ hiện đại. Bản chất mang sắc thái đa ngã - le moi multiple - thám hiểm những cái tôi chưa biết - le moi inconnu - chưa thành hình.

Về cấu trúc, rời bỏ hình thức thẳng - forme linéaire - sang hình thức nổi - typographique -, đi  vào cấu trúc không gian, không vần - non vers -, đảo lộn ngữ pháp  cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới. Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn, đối lập với  quan niệm thẩm mỹ liên tục trong văn chương và  trong cuộc sống, hiện diện trong  thơ văn từ trước đến giờ.

Muốn tìm hiểu tác phẩm và tác phong văn học đó, trước heat phải đặt Bóng Chữ vào bối cảnh của nó, vào gia đình thơ hiện đại, với dòng mạch  thế kỷ XX. Dòng mạch này,  đối với phần đông chúng ta, dường như vẫn còn là một hoang đảo, mà trước tập Bóng Chữ của Lê Đạt,  cũng chỉ có một  vài tên tuổi như  Thanh Tâm Tuyền, Đặng Đình Hưng, mỗi người một lối, đã tìm cách bước vào.

Ở ngã  ba, giữa tinh thần  khoa học và trí  tuệ trong thơ hiện đại, giữa truyền thống tạo vật huyền đồng trong triết lý Lão Trang, và bằng  chữ Việt, đắm trong lịch sử  chữ, qua thơ văn, ca dao, tục ngữ ... Lê Đạt tha thẩn tạo nên Bóng Chữ.

Tác phẩm  đã gây ra những  bài viết sóng gió  trong nước. Chúng tôi  nghĩ rằng, muốn  giới thiệu tác  phẩm một cách  nghiêm chỉnh, trước  hết chúng ta  nên tìm  hiểu  một số quy  ước mỹ học trong thơ hiện đại mà từ những khái niệm mỹ học đó, đã thoát thai Bóng Chữ.

Dòng mạch  siêu thực ra đời  những năm 20 với  phong trào "Da Da" từ  Zurich, sang Paris - New-York. Đối  với thi ca, André Breton, Jean Cocteau chối bỏ cấu trúc cổ điển, dựa trên nguyên lý song song:  Song song trong  vần điệu, song  song trong điệp  âm, điệp ý, song song trong đối âm,  đối ngẫu, ... để mở ra một phong cách sắp xếp chữ nghĩa khác, trong đó cấu trúc du dương không còn giữ địa vị độc tôn như xưa nữa.  Cấu trúc mới còn gọi là cấu trúc không vần  "non vers", phát hiện  ngay từ đầu thế  kỷ với ý hướng giải thoát  câu thơ từ  hình thức thẳng  sang hình thức  nổi, hay hình  thức âm  thanh, hoặc  đảo lộn  ngữ pháp  từ thời  kỳ Da Da. Guillaume Apollinaire  là một trong  những người tiên  phong bước vào thể loại vô hình thức.

Trong nửa đầu thế kỷ XX,  những khuynh hướng đối lập trực diện với nhau. Đôi khi trong cùng một tác giả hoặc trong cùng một tác phẩm, xuất hiện cả hai quan  niệm: Quan niệm thẩm mỹ liên tục - của bài  thơ - kết hợp, đồng  nhất và hài hòa  với quan niệm gián đoạn, rã rời, tư tán trong cấu trúc. Sự trung thành với hình thức cổ điển  và sự chối bỏ  cổ điển xuất hiện  thường xuyên trong các tác phẩm của  Paul Claudel, Paul Valéry, Blaise  Cendrars ... Ảnh hưởng vừa  đối tác, vừa  giao hòa  của  các nhà thơ  này chấm dứt những năm 50,  để nhường chỗ cho một thế  hệ thi nhân mới, khuynh đảo thế hệ  đi trước và sáng lập  ra ngôn ngữ cách tân  hiện đại, dựa trên ngữ căn  học, chối bỏ mọi thỏa hiệp với  cổ điển và lãng mạn. Họ  là những Pierre  Jean Jouve, Jules  Supervielle, St John Perse, rồi Paul Eluard, René  Char, Henri Michaux, Francis Ponge, Yves Bonnefoy, ...

Sự khác biệt  đầu tiên giữa thơ hiện đại  với thơ cổ điển và lãng mạn là ở"cái tôi".

Từ xưa đến nay, cái tôi - le moi - vẫn được coi như là căn nguyên hay sự  khơi nguồn của động  tác sáng tạo. Thời  lãng mạn, cái tôi, với trạng thái ý thức và sự nhận thức của nó, là yếu tố chủ động cấu tạo nên bài thơ.

Cái tôi,được quan niệm như  một dữ kiện, trọng tâm của ý thức, tiếp nhận  những cảm xúc. Sự tiếp nhận  đó tạo nên dược tố, kích thích nó,  khiến cái tôitô màu những  nhận thức của mình về cuộc đời:  tình yêu, buồn  vui, hoang mang,  lo sợ. Thi  pháp của Eluard, dưới một khía cạnh nào đó, vẫn còn giữ truyền thống này.

Nhưng đối với Paul Eluard cũng như đối với thế hệ thi nhân hiện đại, vị trí của "cái tôi" đã không còn như trước nữa: nó đã mất địa vị độc tôn, hoặc đã lu mờ, hay đã bội phân, lũy thừa trở thành cái tôi multiple tùy theo bài thơ.

Đối với thơ hiện đại, cứu cánh  của động tác thi ca nằm ở sự biểu  lộ, phát giác,  thoát thai, giải  phóng cái tôi  chưa biết - le moi  inconnu -, thám hiểm thế  giới của nó bằng  áng sáng ngôn ngữ. Paul  Eluard cho rằng: Bài  thơ thực hiện bằng  lời, sự ngẫu hợp kỳ diệu của cái tôi và ngoại giới và là một hình thái kết hợp tình yêu. Theo Breton và Eluard,  tình yêu là một phong cách thơ, ngoài tầm lý trí,  là nguồn của sự hội nhập cái  tôi ý thức trong cái tôi vô thức.

Đối với  Henri Michaux: Không  có một tôi,  không có mười tôi. Tôi chỉ là  vị trí thăng bằng. Và người ký  tên tác phẩm chỉ là một hình thái nhất thời của  nhũng yếu tố rời rạc, không ngừng chuyển động để dàn ra những thực thể bất kỳ và gián đoạn. Điều đó giúp ông thoát khỏi sự hỗn loạn và có thể làm chủ mình.

Francis Ponge từ bỏcái tôi  để giải đáp một vấn đề khác: Đó là làm sao thể hiện bằng động tác ngôn ngữ, mối tương quan sâu xa giữa người và sự vật. Từ bỏ cái tôi, Ponge từ bỏ những chủ đề lấy cái tôi  làm gốc, như những lo  âu, ám ảnh, sự tìm  kiếm siêu hình...  và rất an nhiên  Ponge đem vật thể  objet làm thành vật chơi objeu và vật vui objoie. Trong  thú vui của mình với đồ vật, Ponge tìm thấy nguyên lý: "Thế giới câm mới là tổ quốc".

Tóm lại,  thi ca hiện đại,  đặt lại vấn đề  thân phận của cái tôi  đã từng chi phối  hệ thống tư tưởng  của con người trong suốt 20 thế kỷ.

Với St John  Perse, nhà thơ kiêu kỳ và  linh thiêng vì có khả năng  thiên bẩm, nhà  thơ vừa  là  ngoại nhân mà  còn là nhân chứng, tham dự vào chuyến phiêu lưu mà bài thơ đề cảm.

Nhà thơ, đối với Breton, là  người giải phóng, và là tiền trạm của người tương lai.

Đối với  René Char, không phải  là ngoại giới mà  là đất, miền đất đặc  biệt của quê hương ông (vùng  Lsur la Sorgue, Vaucluse) đã cung cấp chất liệu cho những bài thơ của ông. Và qua đất mà Char định vị mình như một con người ý thức, con người nhất thời và  muôn thuở. Sống  bởi và sống  bằng tư tưởng,  giữa những biên giới của những thực tại vô nhân, vô luân, đáng ngại.

Lửa, nước, đất,  không khí, cái cuốc, cái  cầy, mùa màng, sống, chết, tình yêu, ánh sáng và bóng tối tạo một vũ trụ ngữ học giàu có,  ở đó những  phức tạp và  nhũng nghịch lý  đối chất nhau trong kinh nghiệm con người.

Theo Char: "Chúng ta chỉ có  thể sống trước ngưỡng cửa hé mở, đứng  trên con đường  niêm phong ranh  giới giữa ánh  sáng và bóng tối". Thi sĩ, là người  dùng lời lẽ chính  xác, hòa hợp con người với tình trạng trọn vẹn nắm bắt ấy.

Người nghệ sĩ, theo Nietzche, hủy hoại những hình thức đã có để tái tạo nhũng kết hợp mới bằng trò chơi.

Sự nổi dậy của thơ hiện đại do đó có hai chặng: Chặng phá vỡ ngôn ngữ, trước tiên là một dụng cụ, một khí giới và nhờ khí giới ấy, thi nhân đạt tới mục đích làcon người tự do. Henri Michaux viết: "Độc giả, bạn cầm ở tay đây một quyển sách không phải tác giả làm" và  cái không tôi - không tác giả - đề nghị với độc giả làm chung một quyển sách khác.

Michaux biệt  lập cái tôiđể  khách quan nó, để  loại trừ vai trò ưu tiên của nó trong văn  bản, và rải rác nó vào nhiều cá thể khác, đủ loại, sinh ra và biến đi trong mỗi bản văn.

Một mặt  khác, cái tôi là  một đơn vị cố  hữu đối với tác phẩm, một tổ chức  nội tại của văn bản, mà ở  trong đó mạch thông không bị gián đoạn từ bài này sang bài khác, mỗi bài thoát ra một hình thức hư cấu  khác nhau. Vàcái tôiđó nói  lên tính cách phi lý của  tất cả những  cách xây dựng  dựa trên bất  kỳ một thực tế nào.

Francis Ponge là một nhà xây  dựng, một người thợ; ông đã lao động  10 năm trước  khi cho  in  tuyển tập Le  parti pris des choses (1942)  (Thành kiến về sự  vật). Nhận thấy mình  không thể "diễn tả" được, Ponge tìm đến sự  vật để chơi. Ông nói: "Tôi nhìn những vật  gần nhất, nhìn những  hòn sỏi dưới chân  tôi, tôi quan sát nó cho đến  khi nó mở ra, để lộ ra một  hố sâu, và cái hố này ít nguy hiểm  hơn cái hố sâu nơi con  người, vì bằng những phương tiện diễn  tả, tôi có thể  khép nó lại được".  Muốn thể hiện điều đó, trước hết  phải quên đi tất cả  những gì chúng ta đã  biết về vật thể: tất cả những thành kiến đã có sẵn về nó. Sau đó, muốn để cho nó tái sinh trong ý thức  ta, thì phải vận dụng đến kiến thức ngôn ngữ, nhưng không phải trong  cái nghĩa miêu tả thông thường, mà dùng  phương pháp lắp  ghép - gọi là  objeu - để chế  tạo ra văn bản, cũng lạ lùng và đặc biệt như vật thể.

Tất cả những hình thức lao  động tư tưởng và trò chơi lắp ghép chữ nghĩa mà chúng ta vừa  lược kể trên đây, ít nhiều đều có họ hàng với các con chữ trong thơ Lê Đạt. Và  sự kết hợp một đời chữ, một đời người, đã cấu tạo nên tác phẩm. Những chìa khóa này, trong một  chừng mực nào đó,  giúp chúng ta đỡ  ngập ngừng khi gõ vào cửa hàng Lê Đạt,đã bị niêm phong hơn 30 năm nay.

Là một nhà  lý luận và nghiên cứu, Lê  Đạt đã sắp xếp tác phẩm của mình  theo tình tự khoa học. Song  song với Bóng Chữ nhà thơ còn  cho ra đời tập  truyện ngắn Hèn Đại  Nhân, kết hợp những bài viết  nói lên vị  thế và nhân  cách của người  cầm bút. Riêng truyện ngắn Hèn  Đại Nhân, viết về ý nghĩa  của cái chết, sự sống và sáng  tác, một tự  truyện của tác  giả: Khi cần  nhẫn nhục sẵn sàng gạt cái  gọi là danh dự sang  một bên, để sống còn,  để sáng tác. Sống  và sáng là cứu  cánh của người nghệ  sĩ. Nhưng khi tác phẩm đã hình thành, nếu tập bản  thảo của mình bị chiếm đoạt, thì người nghệ sĩ lại là kẻ sẵn sàng đem sinh mệnh của mình để bảo vệ tác phẩm,  đổi lấy sự ra  đời của tác phẩm.  Tập truyện xuất hiện bên cạnh  tập thơ, là  giấy khai sinh  và là lý  do hiện hình của Bóng Chữ.

Bóng Chữ nằm  trong dòng thơ hiện đại của  thế kỷ này, mà chúng tôi xin tạm gọi là Thơ Tạo Sinh, đánh dấu sự ra đời của một dòng thơ,  khác với thơ  mới trong quan  niệm cũ, khác  với thơ tự do mà hai chữ tự do bị lạm  dụng đã nhiều. Tạo trong nghĩa sáng tạo, sinh trong nghĩa  sinh ra, sinh sôi, nẩy nở,  phức âm đa tầng, đa nghĩa và đa ngã.

Tác phẩm chia làm 4 phần:

1. Phần giáo đầu: Tiểu sử và  chân dung tác giả.
2. Phần thứ nhì:  Chiều Bích Câu là tình yêu hay  sự hội ngộ giữa người và thơ.
3. Phần thứ  ba: Lão Núi, chân dung lịch  sử trong khung cảnh đất nước.
4. Phần thứ tư:  Mùi sầu riêng, hợp thể về tình  yêu và con người trong quá trình lịch sử và văn hóa, xưa và nay.

Sự phân đoạn  chỉ có tính cách rất  tượng trưng, vì trong cả bốn  phần đều có  sự liên  tục  những gián đoạn,  và gián đoạn những liên tục của những hệ hình:

- Hệ tình  yêu,
- Hệ dục tính,
- Hệ châm biếm,
- Hệ đấu tranh,
- Hệ nghệ thuật.

Trước khi  vào tập, chúng  ta thử đọc  lại hai chữ "bóng chữ". Bóng chữ, một hình ảnh vừa mơ hồ, vừa xác thực. Mơ hồ vì có ai biết  thế nào làbóng  chữ? Nghĩa bóng của  chữ chăng? Đúng mà chưa đủ. Xác  thực vì khó tìm một  định nghĩa nào gần gụi  thơ Lê Đạt hơn "Bóng chữ". Bởi mỗi chữ trong thơ ông chỉ là cái bóng, đè lên những chữ  khác. Lê Đạt dùng "con chữ"  để chỉ những thực thể chữ nghĩa của  mình. Vì nó sống, nó chuyển  động, nó biến đổi, nó tự nhân lên. Bản sắc của nó là đa ngã.

Thơ  là nghệ  thuật tạo  hình bằng  chữ. Mật  độ hình ảnh trong thơ định lượng chất thơ  trong thơ. Thơ Lê Đạt, ngoài những biện pháp tạo hình thông thường như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, cùng các phép tỉnh lược  danh từ, tính từ, động từ...  xóa bỏ ý niệm trung gian, còn xuất hiện những biện pháp khác dựa trên các thành tố khác:

- Tạo hình bằng tính chất đa ngã của chữ,

- Tạo  hình bằng cách  cắt chữ, cắt  câu, gián đoạn  mạch chữ, mạch văn,

- Tạo  hình trong cách chuyển  động mạch văn, chối  bỏ sự ngắt câu cố định, chuyển sang cách ngắt câu bất định,

- Tạo  hình bằng tính cách  đối hình, đảo ngữ  và nói lái trong ngôn ngữ Việt.

Và trên  tất cả, Bóng Chữ  mang tính chất hồn  nhiên, thơ dại, nói đúng ra là ngây ngô, trong ý nghĩa naif hội họa, của một người:

Ngây ngô quên hết lối về già

   ***

Con chữ của Lê Đạt tương đương với objeu objoie của Francis Ponge, một trò chơi chữ, một thú vui chữ, một mặt trận chữ, một trận đồ bát quái mà tác giả bầy ra trong địa đồ và địa chỉ Lão Núi.

Lão Núi là những bức chân  dung lập thể có tính cách châm biếm  rất Tú  Xương, Xuân  Hương, ngay  trong tựa  đề: Ông phó cả Ngựa, Ông cụ chăn dê, ông cụ Nguồn.

Trong Ông phó cả ngựa, cả ba  chữ phó, cả và ngựa đều hàm súc. Ngựa có thể gợi ý từ ngựa Hồ:

Tình riêng chim Việt ngựa Hồ
Chim Việt ngựa Hồ biết nhớ nước thương non

Ngựa viết  hoa còn có  thể là Người  viết hoa, là  Nguyễn viết hoa; Ngựa  có thể là hóa thân của  người trong giấc mơ Trang Châu  hóa bướm.  Ngựa còn  gần với  gia đình  bọ ngựa: ngứa, ngó, ngoáy... nhờ liên tưởng âm thanh.

Chữ Cả  là anh cả,  là xếp, và  còn gần âm  với cà như cà rịch cà tang,  cà tong cà teo mà  cũng có thể là cà  như cán, đè, đàn áp...

Chữ Phó  cũng vô cùng phức  tạp, phó có thể  là phó bảng, phó mộc, phó  tiến sĩ, phó thường dân...  Phó dẫn đến các quan hệ thầy - thợ, cha - con, bác - cháu, quan - dân, chủ - tớ...

Chữ dê  gợi những âm đồng  nghĩa: dê, dâm, dương,  mà còn gợi  những âm  khác nghĩa:  như dương  trong thái  dương, như dần trong  canh  dần,  như  dân  trong  quốc  dân,  hay Quốc dân... Ông cụ chăn dê hình như còn là một người chăn chữ:

Ơ những con A con B con C
con Dê
bản trang trắng thảo thơm

                                    (trang 60)

Chữ Nguồn viết hoa, cũng có thể là chữ Người viết hoa, mà Nguồn còn có thể là nguồn nước như:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. (Bà Huyện Thanh Quan)

hoặc:

Nơi Bác về Nguồn nước mới sinh. (Tố Hữu)

Nguồn đây  cũng có thể  là phản nguồn,  đối cực với  quan niệm nguồn gốc cụ thể, cố định  và hoài cổ. Nguồn gốc đối với nhà thơ ở đây mang tính chất huyền  thoại và luôn luôn chuyển động nó ở bên kia biên thùy cõi biết:

Nguồn nơi đàng trong
                                (trang 68)

Đàng trong có  thể là đối lập của đàng ngoài. Đàng trong vừa  có nghĩa  là trong  đục...   vừa có  nghĩa là  nội tâm  của Nước:

Tay áp ngực
trầm ngâm

tiếng nước tâm sự đáy
Người thâm canh sống

                                        (trang 69)

Nguồn  phần nào  tương tự  với bản  lai diện  mục của các thiền sư. Thế giới của các ông Lão Núi là Sáng Thế Xuân của chữ.

Về mặt  ngữ căn và  triết lý,  ba  bài thơ trên  có sự tư thông giữa người và vật như người  và ngựa, ngựa và mộc; chúng là chân dung phác thảo những kiếp người-ngựa, ngựa-người, mà cũng là chân dung gỗ, chân dung ngựa gỗ, đánh số hoặc không đánh số, một đàn lốc nhốc, quần cộc, lộc ngộc, nhong nhong như nhau.

Mà cũng  có thể là một  huyền thoại vềnước,  từ cái ngày mười chín tháng tám nào đó, Đê  Đồng Lao bị vỡ, nước vỡ bờ, người ta đốt pháo mừng tuổi nước, mừng ngôi sao mới ra đời, huyền thoại kéo dài cho tới điềm Đại Mùa Thắng Xuân:

Mười chín ... tám
Thì reo
Rồi ùng ục
Rễ nước đại thụ
từ sơ địa
mịt mù dã sử
phun sáng ngần
Đêm pháo hoa mừng tuổi nước
Một ngôi sao mới lớn

Mà cũng  có thể là  những mảnh puzzle  của một bức  dư đồ rách, trải bao thăng trầm, tụt  xuống thời ma mút, tiến lên văn minh Xahara;  bức dư đồ  đã qua những ga Kỳ Lừa,  những hợp tác Rừng... những <I>đại lộ Rừng chưa kịp đặt tên.

Mà cũng  có thể là chân  dung anh Cả, anh  Kế, anh Ké, có công cải cỏ  nương Voi (1) thích món...  giả hùm "phập phồng một vị  riềng quê",  ưa trò  đồ mi,  nói như  Xuân Hương  gọi là "cắm giếng":

Ông cắm giếng
Cồn đất múp
Sừng gái mười bẩy
Đào lút hai vầu cột cờ

Mà cũng  có thể chỉ là  một chuyện bạch đàn.  Một lịch sử mười năm trồng cây. Trăm năm trồng người.

Mà cũng  có thể là một  loại sấm, trong đó  những con chữ thông minh  tự biết ứng xử  với đời: Khi nguy  biến thì chui, thì đảo; khi an toàn thì nổi, có khi trở tục thành thanh ... bằng tất cả những thủ pháp có thể mường tượng được trong tiếng Việt.

Tính chất đa  ngã của chữ, hợp cùng cách  xếp đặt lập thể những hình  ảnh cắt nghiêng, chồng  chéo, đảo lộn trật  tự, những lớp  lang  úp  mở,  tất  cả  phối  hợp  thành  tác  phẩm  đa thực (méta-réalisme) về một mệnh nước, mệnh người. Mệnh ngựa, mệnh gỗ, mệnh ngựa gỗ. Chất lượng hình ảnh tùy thuộc sự khám phá, sáng tạo trong kho ngôn ngữ và lịch sử ngôn ngữ của người đọc.

Về mặt  cấu trúc hình  thức, Lê Đạt  dùng rất nhiều  biện pháp cách  tân để tạo hình  mới, tạo ngôn ngữ  mới. Tạo hình bằng cách cắt chữ: Một đóa mimosa mở ra ba hình: mi - môi - xa:

Mimoza chiều khép cánh mi môi xa

Mở ẩn dụ cổ điển, cắt mây mưa thành

Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu

(trang 27)

Lê Đạt đưa  ra những hình ảnh mới về mắt, chưa từng xuất hiện bao giờ:

Từ hình ảnh mắt xanh, cổ điển, Lê Đạt viết:

Mắt vạn niên thanh
trưa hồ thủy

(trang 88)

như thế thì mắt không chỉ xanh thôi, mà còn to, tròn, có đuôi như lá vạn niên  thanh, xanh vĩnh cửu: Câu thơ  ấp ủ giấc mộng trường sinh trong biển lục. Rồi hình ảnh trưa hồ thủy bất chợt đến sau, đem trưa, một  ý niệm  thời gian  hữu hạn,  cắt đứt vạn niên, ý niệm thời gian vô hạn bằng một màu xanh khác: xanh hồ thủy. Vết cắt ấy chính là sự giao thoa giữa hai màu  lục và lơ và là điểm hẹn giữa hiện tại và tương lai, giữa hữu hạn và vô hạn. Tính cách giao lưu kim cổ  này tạo những  hình ảnh lạ  lùng và đài  các trong thơ Lê Đạt:

Mây may thu mắt thủy mặc hồ
                                                (trang 30)

Và từđôi mắt xanh, Lê Đạt tạo những biến tố khác nhau trong nồng độ, âm độ và sắc độ, pha trộn giữa hội họa, thi ca và âm nhạc:

Mắt xưa xanh
mưa mành
sương liễu sóng
Mùa sang may
thu đánh ngải lông mày

(trang 94)

Từ mắt xanh thời quá khứ, chuyển sang mắt bão, thời hiện đại:

Mắt chuyển  làm mày cau   mi chớp giật
Tim đài xanh  bão thổi cấp mười hai

(trang 80)

và những đôi mắt lá răm rất ca dao, rất Xuân Hương:

Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày

(trang 26)

hoặc:

Nước rửa lông mày
anh tưới tâm cây
Vùng lửa hạn
mắt lá ngày răm mát

(trang 32)

Như thế, riêng hình ảnh về  mắt, tính chất tạo sinh đã mở ra vô tận, tùy theo cách kết  hợp giữa quá khứ với hiện tại, giữa con chữ hôm qua và con chữ hôm nay.

Ngờ Nguyễn Du  và Đạm Tiên đã đi bát  phố, nhà thơ gõ cửa Hồn thanh minh và hỏi:

Hồn có nhà hay bát mộ đi xanh
                                (trang 134)

và nhà thơ vẽ tranh khỏa thân thủy mạc:

Bãi nổi, sông thon, chiều vỗ én
Đồi mềm, mây lưu thủy, mắt thuyền quên

                                (trang 75)

Có khi ông đem hội họa về miền điền dã:

Hội kênh đầy
chân trắng ngấn sông quê

                                (trang 22)

Với  Bóng Chữ,  trạng thái  u mê  có thể  mở ra thành một quang cảnh đầy âm thanh và thiết tha tâm cảm:

Vỏ ốc u u  gọi mê miền cát ngủ
(trang 77)

và Bóng Chữ  vẽ "đèn phố" dưới dạng khỏa  thân, phân thân và phức âm:

Chấp chới  đèn lên tóc phố
Gáy nê ông chiều lả liễu lam bay

(trang 79)

Bóng Chữ tạo hình bằng đảo ngữ: Trong câu thơ " Bến cửa, ngực đèn, lòng ga, trăng rõi", mỗi hình đều có khả năng đảo ngược thành những hình ảnh đối xứng:

Cửa bến, đèn ngực, ga lòng, rõi trăng

Bóng Chữ còn làm mới cổ tích, đem cô Tấm lồng vào hồn thơ hiện đại:

Anh rình    /   trắng nghìn trăng  /   nghiêng ngõ mộng
Bước thị thơm chân   /   chữ động em về

(trang 82)

và nhà thơ bỏ cách ngắt câu cố định:

Hoa hồng hoa hồng bông

có thể đọc nhiều cách:

Hoa  /  hồng hoa  /  hồng bông

hoặc:

Hoa hồng hoa   /   hồng bông

v...v...

Mỗi cách ngắt câu đem lại một cục diện âm thanh và ngữ nghĩa khác:

Hè thon
cong thân
nắng ca mình
Gió ngỏ tình
xanh nín lộc
giả làm thinh
Tóc hoa đèn
tim lần giở
trang em
Mùi mưa xưa
lòng chưa tạnh
phố nhau đầu
Đàn từ non
âm hé cong
mơ hót

Mỗi câu thơ trên đây bầy ra ít nhất hai cách ngắt câu khác nhau. Linh động cách ngắt câu như thế, nhà thơ tạo chuyển động cho câu thơ và cho hình ảnh, khiến các từ có thể kết hợp theo những ngữ nghĩa khác, những mô hình khác:

Hè thon   /   cong thân nắng   /   cựa mình

khác với:

Hè thon cong  /  thân nắng cựa mình

Hè thon  /  cong thân  /  nắng cựa mình

Rồi

Tóc hoa đèn   /   tim lần giở trang em

khác với:

Tóc hoa   /    đèn tim    /   lần giở trang em

Tóc  /  hoa  /  đèn  /  tim  / lần giở trang  /  em
                        ...

Tính cánh di động ảnh theo cách ngắt câu, phát xuất từ sự gián đoạn những  liên tục và liên tục những  gián đoạn trong mạch câu. Nói khác đi, mỗi chữ trong câu vừa có vị trí độc lập đối với những chữ khác, vừa có khả năng kết hợp với những chữ khác, không nhất thiết phải theo một trật tự nhất định.

 

Bóng Chữ còn  tạo hình nhờ cận ảnh  (gros plan) bằng cách đẩy vào giữa mạch  câu thơ một âm thanh xa lạ,  khác hẳn với nhịp câu:

Từng thớ thịt
anh sống em trọn hẹn
chỉ bóng anh
ò e
xe Văn Điển

(trang 23)

Áo buồm cong nét nắng
Phố cũ ồ lên đèn
U ú thiên hà
tàu nhả khói
ngã ba
Tà áo bay sao phố bổi hổi trời

Những chữò e  , cong , ồ, u ú , bổi  hổi lạc vào câu thơ như những trái  phá, cắt đứt mạch văn, gián  đoạn không gian, tạo sự ngạc nhiên.  Ngoài tác dụng gợi thanh, gợi  hình, tạo linh hồn cho khung cảnh và động tác, chúng còn là những âm được chiếu gros plan thành  âm thanh nổi, tựa  những hình cube của  Cézanne trong không gian phẳng của hội họa, làm đổi toàn diện cục bộ nghệ thuật tác phẩm.

Trong trường  hợp câu đối cổ  điển "Da trắng vỗ  bì bạch" của Đoàn  Thị Điểm, Bóng  Chữ tách làm  hai ảnh em,  rồi tổng hợp lại, chiếu gros plan lên âm thanh "ồ hô" gợi hình ảnh khỏa thân:

Ơi em rất ô
Ơi em rất hồ
Trắng vỗ ồ hô trúc bạch
Bước động ngày thon róc rách

(trang 28)

Nhà thơ đã  tái sinh câu đối của người  xưa trong trận đồ ngôn ngữ hiện đại.

Đến đây,  chúng ta đã có  gần đầy đủ phương  tiện để phân tích bài  Bóng Chữ, bài  thơ quy  tự  những yếu tố  tiêu biểu cho phong cách tạo sinh trong thơ Lê Đạt.

Trước hết,  như chúng ta  đã thấy ở  trên, hai chữ  "bóng chữ" là tiền đề báo hiệu trạng  thái nhập nhòa và cạm bẫy của con chữ trong tác phẩm. Ngoài ra, nhìn dưới dạng ẩn dụ, chữ cũng có thể  là em,  là ai.  Do đó,  bóng chữ  còn có  thể là

bóng em hay
bóng ai ...

A. Chia xa rồi anh mới thấy em
B. Như một thời thơ thiếu nhỏ
C. Em về trắng đầy cong khung nhớ
D. Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu

E. Vườn thức một mùi hoa đi vắng
F. Em vẫn đây mà em ở đâu
G. Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu

Bài thơ 49 chữ + bóng chữ = 51 chữ.

Câu A mở ra sự cách biệt giữa hai cá thể.

Câu B cố tình lạm phát lời, ba chữ: thơ, thiếu, nhỏ, chụm lại một hình:  (tuổi thơ = niên thiếu =  tuổi nhỏ), ngược lại với cách phân tích một chữ thành ba  hình trong mimoza = mi, mởi, xa. B, bắc cầu (enjambement) với chữ cuối của A, mở ra những hình ảnh khác nhau tùy theo cách ngắt câu:

- Em như một thời thơ  /  thiếu nhỏ
- Em như một thời  /  thơ thiếu nhỏ

Dưới hai dạng  thức này, thơthiếu  đã biến nghĩa: Thơ có thể  là thơ ngây,  nàng thơ, mà  cũng có thể  chỉ làthơ không thôi. Thiếu trở thành biến từ, nghĩa là vắng hoặc chưa đủ:

Em như một thời vắng tuổi nhỏ
Em như một thời thơ ngây, chưa đủ ngây thơ
Em như một thời nàng thơ hết thơ ngây
Em như một thời thơ đã già ...

hoặc còn có thể đọc A và B như hai câu thơ độc lập, và như thế, B được hiểu như một phép tỉnh luợc chủ từ:

Chia xa rồi anh mới thấy em.
(Anh) như một thời thơ thiếu nhỏ.

 

Câu C: Em về trắng đầy  cong khung nhớ vừa tha thiết, vừa đắm say. Khung nhớ, hình  ảnh đẹp và  hiếm, vừa cụ  thể hóa niềm nhớ, vừa gợi lên  tính chất sùng bái, dồn nén, hữu  hạn và vô hạn của nhớ  thương. Chữ "cong" trai  lơ nằm giữa trắng  đầymây mưa (trong câu thơ kế tiếp), gợi nhục cảm.

Câu D trở về với cách biệt: Chia ly giữa mùathu, giữa mâymưa, ở đây nhà thơ mở ẩn dụ mây mưa thành hai hình:

Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu

Và hai hình ấy lại có  khả năng tạo hình bằng phiếm định, dường  như  chúng  hỏi  nhau  trong  câu  thơ,  về  "chuyện  ấy". Mấy: Bao nhiêu?  Vài? Một  ít? Biết  bao nhiêu  mà kể?  Chẳng bao giờ?... Mấy mang trong mình một quá trình văn học, trải hơn một đời tình:

Nước non cách mấy buồng thêu - Kiều -(mấy: bao nhiêu? Vừa hỏi vừa cảm thán)

Đã dễ tình cờ mấy khi - Kiều - (mấy: chẳng nhiều lắm đâu)
Mấy lòng hạ cố đến nhau -Kiều - (mấy: vài, một ít)
mấy còn có ý hòai nghi về một sự khước từ, đoạn tuyệt:

Mấy lần cửa đóng khen cài -Kiều -

Bao nhiêu ân tình, bao nhiêu trạng huống qua một chữ mấy!
Chưa dứt chia ly, đã tràn sang nhung nhớ:

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Cả trục nhớ  nằm trong chữ thức: Hoa  đi vắng, vườn không ngủ. Hoa  đi vắng, vườn vẫn  sực mùi hương. Thức  khơ động cả một vườn, một vùng thiên nhiên sống trong cõi nhớ, tỉnh dậy trong cõi nhớ. Thức  đưa đời vào  mộng, khiến mộng  và đời tan  loãng trong nhau. Rồi thức báo hiệu tâm cảm hôn mê, chạng vạng:

Em vẫn đây mà em ở đâu?

để:

Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu.

Âu Lâu là  quê hương của Lê Đạt, một  bến sông ở Yên Thế. Âu Lâu đồng âm với Âu Lạc, cũng quê hương của Lê Đạt và của nhiều người. Mà âu còn là có lẽ:

Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây -Kiều -
Hoặc âu cũng là thà:
Âu đành quả kiếp nhân sinh - Kiều -
Hay âu chỉ đơn giản như là âu yếm, và lâu còn là mái lầu như Hồng Lâu Mộng.  Và như thế  âu lâu là  mái lầu buồn,  lầu yêu, lầu yêu buồn, hồng lâu mộng, ...

Trong chiều âu lâu ấy, bóng chữ động chân cầu.

Ở đây, bóng chữ hay bóng em vụt thoáng qua trong chữ động (Cá đâu  đớp động dưới  chân bèo, Nguyễn  Khuyến) và vụt  biến đi trong chữ "bóng". Nhưng nếu đọc lái hai chữ "chân cầu" bằng giọng Bắc thành "câu chần" thì câu thơ trở thành:

Bóng chữ động câu trần

lại mở ra một thực tại khác vô  cùng đắm say và thơ mộng giữa hai thực thể chữcâu.

Bóng chữ chao  đảo giữa mộng và thực,  giữa tục và thanh, giữa người và ảnh, giữa phôi pha và vĩnh cửu.

Bóng Chữ là  tập thơ tình, là mối sầu  riêng, không tên - không tôi  - không địa chỉ;  Nấp sau bóng của  những hình hài hóm hỉnh, trêu  ngươi, là một tình  yêu thiết tha, trầm  lắng, là nỗi buồn riêng tìm  kiếm triền miên tình yêu và  nghệ thuật: Tình yêu đã lẩn trong nghệ thuật hay nghệ thuật đã trốn trong tình yêu:

Sóng tháp bút
bước mở trầm
âm lắng
Mưa búp măng
buông phím nắng dạo ngần.

Cũng có khi là sự hoài vọng một vết yêu chưa lành:

Anh đỏ thổi những dấu hôn tro phủ.

Ở phần  sầu riêng ấy, bóng  chữ ẩn bóng tôi,  bóng ta, mà cũng không tôi,  không ta, để trở thành cái  tôi phổ quát của con người lạc loài rồi tan loãng  trong thiên nhiên, trong vũ trụ như những cánh thư lạc trong hư vô:

Vàng hồ bay
thư không người nhận
gió trả về.

Ngay cả những  cánh thư có người nhận  cũng hóa thân sang kiếp khác:

Chiều gió cả, tiếng ngàn xưa khản lá
Thảm vàng khô
ai hóa
những thư già

Và trong cõi âm dương hòa  hợp chung sống ấy, cả đến bước chân cũng vô chủ:

Bãi trăng rằm
dấu chân câm vắng chủ

Trên ngã rẽ đôi âm - thế, sầm uất cộ xe, chiều cũng lạc loài:

Chiều ngu ngơ xe phố luân hồi

Sự hoang vắng, xa lạ chiếm đoạt cả linh hồn Đức Mẹ dồng trinh:

Mắt Maria
thoáng bóng người lạ ở

Và chúa vô ngôn, lang thang, đi hoang ngoài cửa Bắc:

Chúa không lời
mưa cửa Bắc
chuông rơi

Vô vàn hình  ảnh vượt trùng u uẩn như  thế mang tính cách giao hòa  giữa hai cõi tử  sinh, giữa ngàn xưa  và hiện tại trong những góc cạnh thiết tha và sâu  lắng nhất. Sự hợp tác giữa mơ và thực, giữa con người và thiên nhiên,  giữa lịch sử và văn hóa kết tinh trong thơ Lê Đạt:

Cây ải cây ai
gió sải
tóc buông thề

Cây ải cây ai (gợi nỗi buồn  Tú Xương: Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn) gập cơn gió sải (anh gió này đang phóng bước thật dài, hai tay giăng ra), thì lập tức cây aỉ cây ai hóa thân thành người con gái tóc buông thề.

Tính chất biến  ảo liêu trai, từ nỗi  buồn sang người co gái, từ  thảo mộc sang  con người,  trong  thơ Lê Đạt,  có lẽ bắt ngưồn từ  những ảo ảnh của cuộc đời,  vô thường của  sinh tử, mà thực tế, phải chăng, chỉ là không không sắc sắc.

Bóng Chữ là tác phẩm của một đời. Người yêu thơ không thể khám phá  hết cái hay trong  một lúc. Nhưng chính  vì mỗi lần đến với Bóng Chữ  chúng ta lại thấy một khía  cạnh liêu trai mới, một chập chờn hư thực mới mà tác phẩm  gắn bó với ta và biện minh cho hình thức cộng tác sáng tạo giữa người viết và người đọc.

Thơ Lê  Đạt khó và tối.  Tác giả niêm phong  tác phẩm của mình bằng sự  cô đọng chữ nghĩa. Nhưng  đó là cái khó của  sự tìm tòi khoa học,  cái tối là ẩn số  của bình minh, là sự  niêm phong gạn lọc tư tưởng.  Cho đến nay chúng ta chưa có  một tác phẩm nào thể hiện sự  thay đổi toàn diện trong phong  cách thơ, từ bản sắc triết học, đến  cấu trúc hình thức và nội  dung như thế. Với Bóng Chữ thơ mới đã thực sự nhường ngôi cho một dòng thơ khác, Thơ Tạo Sinh  hay thơ  hiện đại  trong tinh  thần khuynh  đảo và tái sinh những giá trị cổ điển.

Paris 4-1995

 

 

 

Last modified on 10/23/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC