Cách nhìn thế giới khác nhau có thể đưa tới (hoặc cần tới) các mô tả khác nhau về thế giới.
Nếu nhìn thế giới như một toàn thể (wholeness) thì cách mô ta phải là một cái gì trật tự, hợp lý, đầy đặn; tất cả đều có the giải thích được theo một định luật minh bạch. Trái táo rơi thì noon nhiên là theo luật trọng lực; tinh tú xoay vần thì đương nhiên la theo luật vũ trụ hấp dẫn. Nếu có chút gì chưa giải thích được th là vì khoa học chưa tìm được một hằng số để đưa vào công thức ch vui lòng các nhà bác học. Dostoyevsky rồi cũng phải đầu hàng tô giáo: Sau khi cho chàng Ivan khởi tâm và Smerdyakov thô bạo giế bố (tức giết Thượng Đế) lại phải cho tâm hồn thơ mộng của cậu út Alyosha cứu vãn trật tự.
Nhưng nếu nhìn thế giới như những phần mảnh (fragmentation) thì phải phô diễn được tính hỗn loạn, tính phi lý, tính bất khả vừa vặn; tất cả đều không giải thích êm xuôi được, mà phải luôn luôn rơi trong những ngờ vực bất minh. Trái táo rơi thì cứ rơi, tinh tú xoay vần thì cứ xoay vần, nhưng không có nghĩa là tất cả đều hợp lý, tất định. Từ khi Heisenberg tìm ra định luật bất định trong lý thuyết về quantum thì người ta biết là không thể giải quyết tất cả bằng công thức được. Tại sao con người không bao giờ nhận diện được Thượng Đế, tại sao chàng Samsa của Kafka một hôm biến thành sâu bọ, và tại sao cứ là Từ Hải thì phải chết? Thế giới là hàng loạt những hư vỡ và không thể ráp lại cho vẹn toàn.
***
Thử hình dung như chúng ta đang đứng trước một tấm gương và nhìn ảnh mình trong gương. Giả thiết rằng, để tiện lý luận, ngoài khuôn mặt không có chi hết.
Chúng ta có thể nhìn vào mũi, vào môi, vào tóc, vào mắt trái, vân vân. Tất cả vẫn trong một toàn thể dù là ta đang nhìn chỉ vào một phần, một mảnh. Nếu không trong một hòa điệu - dù xấu xí thế nào đi nữa - thì không thể là một khuôn mặt.
Nhưng giả sử, cũng để thử thêm một điều, ta đập vỡ tấm gương và rồi ráp lại. Khuôn mặt trong gương bấy giờ luôn luôn là những phần mảnh trong cuộc đi tìm cái toàn thể bất định. Khuôn mặt dù có đẹp thế nào đi nữa thì cũng cho ta cái cảm giác ngậm ngùi, bất an, kinh hoảng, mong manh, dễ hư vỡ: Chúng ta đang tiếp cận với hư vô, có thể là đang gần hơn hoặc đang đối diện. Nhưng có thật đây vẫn còn là một khuôn mặt hay đã biến thành trăm ngàn khuôn mặt trên trăm ngàn mảnh vỡ?
Sự hỗn loạn ở đây đã tạo thêm nhiều chiều kích mới để nhìn cuộc đời. Thế giới không còn chỉ ba chiều, nhưng đã trở thành một cái gì không đo lường nổi. Chúng ta đối diện nó, và như chết ngộp trước cái bí hiểm, tối tăm, đầy đe dọa - từ cuộc đời, từ thế giới. Và cái văn chương cho trường hợp này hiển nhiên không còn được quyền là cái văn chương của không gian ba chiều về một thế giới xảy ra trong thời gian vật lý.
***
Thử hình dung khi đứng trước một tác phẩm hội họa (hoặc điêu khắc) và một bài thơ. Chúng ta ở đây sẽ là người xem (nhìn, ngắm) tác phẩm hội họa, và sẽ là người đọc (ngâm, nghiền ngẫm) bài thơ.
Điều đầu tiên dị biệt khi đối diện tác phẩm hội họa đây là, chúng ta có thể chọn cách nhìn hoặc từ xa tới gần, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ các đường chéo góc, hoặc ngược lại. Hoặc từtoàn thể tới từng các phần mảnh khác nhau, hoặc ngược lại. Nghĩa là người thưởng ngoạn tự chủ động cách nhìn ngắm, bất kể họa sĩ (hoặc điêu khắc gia) bố cục như thế nào.
Nhưng trước một bài thơ, người thưởng ngoạn phải đọc từ trên xuống, từ trái sang phải, từ tựa bài tới dòng cuối, bất kể nhà thơ bố cục như thế nào (trừ trường hợp loại thơ cụ thể, concrete poetry, chủ nhiều cách trải chữ làm hình). Hình như không có ai đọc ngược từ dưới lên, từ phải sang.
So sánh trên cho thấy điều gì?
Không đơn giản chỉ vì dùng hình ảnh (hoặc màu) khác dùng lời. Có lẽ, cũng nên dè dặt, vì thơ thường nhiều tính truyện hơn. Hiển nhiên điều này đúng với Truyện Kiều, Lục Vân Tiên...
Nhưng khi tính truyện bị giảm trừ, hoặc tính phi truyện dầy đặc hơn thì sao? Người đọc vẫn phải đọc theo cách nhà thơ muốn, nghĩa là trong một bố cục định sẵn. Dĩ nhiên người đọc vẫn có quyền đọc kiểu nhảy dòng, kiểu ngược chiều, kiểu đụng đâu đọc đó. Như vậy thì sẽ nhìn bài thơ trong một ánh sáng khác với cách nhà thơ trình bày, không phải là một toàn thể như đã được trải trên giấy. Nghĩa là đọc kiểu như nhìn ngắm một bức tranh, nghĩa là cách đọc phần mảnh, bất kể điều này có hợp ý nhà thơ hay không.
Nếu đọc Kiều như vậy thì chỉ có thể nhận được những câu hay, chữ đẹp, nhưng toàn cốt truyện ly kỳ, cảm động sẽ biến dạng theo hàng ngàn kiểu khác nhau (có thể thử ráp lung tung các trang, các chương, các dòng vào nhau). Thí dụ như nếu Kiều gặp Từ Hải trước rồi gặp Kim Trọng sau, thì có thể Kiều không còn mê nổi chàng Kim vì sẽ thấy chàng thư sinh này quá ư yếu đuối và sướt mướt. Tuy nhiên đó vẫn là một so sánh trong giả thiết rằng tính truyện là cái tối cao chi phối bài thơ.
Trong trường hợp câu lục vẫn là sáu chữ, câu bát vẫn tám chữ, và cứ trên vần với dưới thì đó là một thế giới dầy đặc, tròn trịa, cho dù cốt truyện có đau khổ, hư vỡ thế nào đi nữa; thế giới vẫn là một trật tự hợp lý. Nhưng khi câu lục không còn là sáu chữ (năm, hoặc bảy) hoặc bị ngắt làm hai (hoặc ba) dòng, và tương tự với câu bát, hoặc chữ cuối không còn vần bằng nữa, thì đây hiển nhiên là một thế giới của rạn vỡ, của bất toàn; thế giới không còn là một trật tự hợp lý nữa, nó đã biến dạng thành cái gì phi lý, khó hiểu, hệt như những hỗn loạn đang diễn ra trước mắt nhân loại.
Hình như không nhất thiết rằng hình thức sẽ quy định nội dung, và ngược lại. Tuy nhiên nếu thật sự trong lòng nhà thơ hoàn toàn không còn một chút trật tự nào thì tất cả, hình thức và nội dung, sẽ không cách chi nằm trong một trật tự khả nhận.
Nếu nhà họa sĩ có thể cho khuôn mặt người đau khổ lệch lạc, méo mó, đầy những nét rạn như kính vỡ, thì tại sao nhà thơ phải giữ đúng những quy luật tả người, tả cảnh, bằng bằng trắc trắc?
Tới đây chúng ta thấy có hai cách nhìn thế giới khác nhau. Cách thứ nhất nhìn thế giới như một toàn thể, hòa điệu, hợp lý, y heat như các định luật vật lý kiểu Newton; chuyện gì cũng có thể giải thích. Cách thứ nhì nhìn thế giới như cái gì của các phần mảnh, rời rã hỗn loạn, phi lý, không thuận theo một định luật chung; chuyện gì trên trần gian cũng cực kỳ khó hiểu, khó thể tiên đoán.
***
Nhưng làm sao ghi được tính phần mảnh trong thơ?
Những bài thơ tình của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Xuân Diệu, dù đau khổ, ray rứt thế nào đi nữa thì trong tận cùng cũng là những lời ngợi ca thế giới, những bài cảm ơn cuộc đời.
Dù bia có đề tháng sáu, dù Tố có đi với người, thì Hoàng cũng quay cuồng trong một điệu vũ chung của thế giới: đầy đặn, tròn trịa, hợp lý, dễ hiểu. Khổ đau nơi đây chỉ là một khuôn mặt đối nghịch của hạnh phúc.
Đó là những khổ đau và hạnh phúc được minh nghĩa, lý giải, không chút mơ hồ. Nếu vậy thì mọi chuyện trên đời này đều có thể tiên đoán được; vì như thế này nên tất định phải như thế kia.
Nhưng có thật mọi chuyện trên đời này đều có thể minh nghĩa và lý giải?
Thực sự là mọi chuyện đều có tính tương thuộc (dependence), nhưng cũng thực sự là vẫn có khả năng cho tính không tương thuộc. Không nhất thiết rằng câu đầu bài thơ sẽ chạy đi đâu đó để rồi một lúc sẽ dẫn tới câu cuối. Thử nhìn qua truyện, khi nhập truyện tác giả nhắc sơ qua về một lưỡi kiếm treo trên tường thì có thể hy vọng rằng cuối truyện sẽ có một vụ xô xát (giết người chẳng hạn) và lưỡi kiếm được dùng như vũ khí. Nhưng cũng có thể lưỡi kiếm sẽ bị quên đi hệt như bao nhiêu thứ khác trong đời--nó cứ nằm như thế, chỉ được nhắc một lần vì trí nhớ vỡ vụn (và có thể vì bố cục vỡ vụn) của người viết. Tuy nhiên, những thứ vỡ vụn, phần mảnh đó vẫn theo một trật tự mà chúng ta không lý giải minh bạch được.
Thế giới của chúng ta thực sự vẫn đầy những hỗn loạn, nhưng là một hỗn loạn trong trật tự riêng. Trong lời tựa vào sách Chaos (Hỗn Loạn) của tác giả James Gleick, do nhà Penguin Books phát hành 1987, về lý thuyết hỗn loạn nơi trang 8 có viết:
"Một chút dị biệt nơi lực truyền vào có thể nhanh chóng trở thành những dị biệt khổng lồ nơi lực truyền ra--một hiện tượng được khoa học mệnh danh là ính tương thuộc nhạy cảm về các điều kiện tiên khởi.“Thí dụ như về thời tiết, điều này được diễn dịch kiểu nửa-đùa-nửa-thật với tên gọi Ảnh Hưởng Bướm (Butterfly Effect)--với cách nói rằng một con bướm đập cánh hôm nay ở Bắc Kinh có thể tạo nên một loạt bão tháng sau ở New York."
Gọi là nửa-đùa-nửa-thật, nhưng đối với khoa học hỗn loạn thì không có chút gì là đùa. Người đầu tiên khám phá ra hiện tượng này là nhà khí tượng học Edward Lorenz. Thoạt tiên ông dùng hình ảnh một con chim hải âu, nhưng tên gọi hiện tượng này cuối cùng được chọn theo bài ông thuyết trình trước American Association for the Advancement of Science ở Washington ngày 29.12.1979, nhan đề, "Tính Khả Đoán: Một Con Bướm Đập Cánh ở Ba Tây Có Thể Gây Bão ở Texas Không?" (Predictability: Does the Flap of a Butterfly Wings in Brazil Set Off a Tornado in Texas?).
Và như vậy, tại sao thế giới này đầy những mảnh rời - tương thuộc hoặc không tương thuộc - mà thơ cứ buộc phải là những chuyện kể dễ hiểu, lâm ly, cảm động?
Hình ảnh nào thực sự chuyên chở đúng được cuộc đời và thế giới - một tấm gương phản ánh đúng một khuôn mặt, hay là
những mảnh gương
vỡ đầy trăm
ngàn khuôn
mặt khó hiểu?
Last modified on 10/23/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC