Trong đời người, Nguyễn Du đã sống bíết bao nhiêu cảnh đổi thay. Trải qua một cuộc biển dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Con người đi qua quán gió cuộc đời, dù bằng chỉ một đời hay nhiều kiếp, đều đang trong cuộc hành hương về cội nguồn mình. Con người quay cuồng giữa cuộc trần gian, với đam mê, êu thương, hạnh phúc, đau khổ...tích cực hoặc buông xuôi, đều loay hoay trong vòng định mệnh bủa vây: bậc thánh trí hoặc kẻ tội đồ, quân tử hay tiểu nhân, người đọc sách hoặc kẻ thương buôn, khuê phụ hay kỹ nữ... Mỗi người là một trong ức triệu sinh linh trên sân khấu cõi tạm đang diễn vở kịch vô thường mà Gandhi gọi là "ảo hoá, ảo hoá và tột cùng ảo hoá." Người suốt đời chạy theo giấc mộng lớn, giấc mộng con. Kẻ bị cuộc đời săn đuổi tới độ không có một ngày đêm yên ổn. Bao nhiêu triều đại sụp đổ, chí anh hùng mòn mỏi, nhan sắc tàn phai, dinh thự điêu tàn, cơ nghiệp tan nát... Những cái ta nghĩ là của mình, mắt trông tay nắm, hoá ra chỉ là hư ảnh, là đồ tạm gởi của cuộc đời. Những điều ta cho là xa vời, không tưởng, rốt cuộc là những giá trị đích thực của đời người.
Ba mươi năm (1772-1802) trong 56 năm tại thế của Nguyễn Du (1765-1820) là cả một thời đại đảo lộn khốc liệt với những biến ảo tột cùng, còn cay nghiệt hơn cả giai đoạn lịch sử chúng ta vừa trải qua (1945-1975).
Ngay từ những ngày Nguyễn Du còn bé, đã không còn cảnh "bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng." Loạn Kiêu binh (1772), sự ngang ngược của cơ bắp cậy thế quyền bính sa đọa, giữa chốn đế đô văn vật, là dấu chỉ những biến đổi nghịch thường trong một giai đoạn lịch sử mới. Năm 1774, quân Trịnh vào Đàng Trong lấy kinh thành Phú Xuân tưởng thu được giang sơn vào một mối, nào ngờ Tây Sơn đã bắt đầu dấy binh. Nguyễn Ánh xưng vương ở miền Nam năm 1780, cầu viện quân Xiêm về để khôi phục cơ đồ thì bị Nguyễn Huệ đánh tan tành (1785). Qua năm sau, đại quân Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ với danh nghĩa phù Lê kéo ra Đàng Ngoài, vào kinh đô Thăng Long, dứt họ Trịnh. Nhà Lê có thêm cơ hội trung hưng nhưng đến năm 1788, vì muốn bảo vệ ngai vàng, đã tạo cơ hội cho 20 vạn quân Thanh xâm lược. Quang Trung Nguyễn Huệ lại kéo quân ra Bắc bất thần đánh cho quân Thanh đạp nhau chạy thây phơi nghẽn nước sông Hồng. Triều đại Tây Sơn chưa mở đầu được thời oai linh thịnh trị, đã tự làm mình suy kiệt vì huynh đệ bất ổn. Ai đoán được đại đế Quang Trung chỉ làm vua có bốn năm ngắn ngủi. Từ năm 1788, Nguyễn Ánh đã chiếm Gia định, và cái chết của Nguyễn Huệ (1792) là thời cơ cho Nguyễn Ánh đẩy mạnh cuộc trường chinh để thống nhất đất nước vào năm 1802. Đoạn cuối của thời phân liệt làm ta nhớ tới câu ca của đôi bạn ngư tiều trong bài ca mở đầu cuốn Tam Quốc Chí của La Quán Trung: "thịnh suy thành bại tổng thành không."
Ba mươi năm với lớp lớp sóng hưng phế rộn ràng. Cũng như giai đoạn lịch sử khốc liệt mà dân tộc ta vừa trãi qua và nay đang nhận lãnh đủ thứ hậu quả. Đằng sau những biến cố chính trị và quân sự là những đổ nát, tan vỡ, chia ly và thù hận. Người chết dật dờ với đủ thứ oan khiên mà công chiến trận được tán dương hay lăng mạ tùy phe phái. Bao lớp lương dân cùng khổ nín lặng ngậm hờn sống lây lất, chết tức tưởi.
Bản thân Nguyễn Du cũng bị quay cuồng trong cơn gió bụi ba mươi name đó. Nhà cửa tan nát. Anh em đối lập nhau. Từ những đau khổ của chính mình, với cảm quan thi nhân, ông phóng chiếu vào cuộc đời, nhận ra những khổ đau, ly tán, hận thù trong lòng người và sinh mệnh dân tộc.
Trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Nguyễn Du trình bày những nỗi oan nghiệt bởi dục vọng, vô minh, hoặc oan khiên do ngoại cảnh trói buộc, khiến con người sống mê lầm, chết u uất. Chữ Thập Loại được dùng chỉ với tính cách tượng trưng. Nguyễn Du đề cập đến hơn mười bốn loại chúng sinh: - (1) anh hùng, lãnh tụ - (2) phụ nữ khuê môn - (3) bậc công khanh - (4) tướng lãnh - (5) kẻ làm giàu - (6) nho sinh, sĩ tử - (7) thủy thủ - (8) thương buôn - (9) người mắc khoá lính - (10) gái giang hồ - (11) kẻ hành khất - (12) tù nhân - (13) hài nhi yểu tử (14) các vong hồn chết bất đắc kỳ tử...
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh không hẳn chỉ là một bài văn tế cầu cho người quá vãng được siêu sinh tịnh độ mà còn là những lời lẽ Nguyễn Du nói với người sống. Mô tả một cách thiết tha, cặn kẽ và đầy chia xẻ những mê lầm, oan khiên, oan nghiệt của người chết trong một bài văn chiêu hồn cũng là một cách soi chiếu vào những mê lầm, oan khiên, oan nghiệt đang đè nặng người sống để người sống nhìn rõ mặt nhau, lắng nghe nhau nói, và cởi bỏ dục vọng, thành kiến, và cả hận thù, yếu đuối... Từ đó, người sống tiếp được mạch nối với người chết, tạo được giao hoà giữa người sống với nhau để cùng nắm tay nhau phục hồi và nuôi dưỡng dòng sống của con người và dân tộc.
Để xây dựng, con người cần cảm thông. Để có thái bình, con người phải sống lương thiện, trọng công chính. Và điều cốt tủy là: xuyên lịch sử và thời gian, mỗi người là một cái riêng hội nhập thành cái chung trong giòng vận hành tiến hoá trên Con Đường Đạo -- vì như Nguyễn Du hằng tin tưởng "thác là thể phách còn là tinh anh." Con người hợp nhất với nhau, với thiên nhiên và vũ trụ từ vô thủy tới vô chung. Mọi sinh linh, gồm cả cỏ cây hoa lá, vừa ươm mầm hoặc đã tàn lụi, đã qua đi hay còn ở lại, chim trời cá biển và con người đang nhìn chim ngắm cá, đều là thành-phần-của-nhau, đều có những nhiệm vụ và ảnh hưởng hổ tương, quần tụ và thúc đẩy nhau, cùng nhau tiến bước trên con đường trở về cội nguồn bất diệt.
Với tinh thần đạo học và trong tình cảnh còn nhiều chia lià, hận thù và đau khổ trong lòng người và đất nước, giữa một thế giới chập chờn điên đảo, xin mời bạn đọc đi vào thiên tuyệt bút Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.
Toàn Văn
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh ngắt sương khô
Não người thay buổi chiều thu
4 Ngàn lau khóm bạc lá ngô đồng vàng
Đường bạch dương bóng chiều man mác
Ngọc đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
8 Cõi dương còn thế nữa là cõi âm
Trong trường dạ tối tăm trời đất
Xót khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay thập loại chúng sinh
12 Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương khói đã không nơi nương tựa
Phận mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn chi ai khó ai hèn
16 Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
Tiết đầu thu dựng đàn giải thoát
Nước tịnh bình tưới hạt dương chi
Muôn nhờ Đức Phật từ bi
20 Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương
Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những chăm cướp gánh non sông
Nói chi đương thuở thị hùng
24 Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau
Bỗng phút đâu đá bay ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
28 Máu tươi lai láng xương khô rã rời
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỉ không đầu van khóc đêm mưa
Đã hay thành bại là cơ
32 Mà u hồn biết bao giờ cho tan.
Nào những kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga
Một phen thay đổi sơn hà
36 Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao
Trên lầu cao dưới dòng nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Khi sao đông đúc vui cười
40 Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương
Thảm thiết nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối ngàn sim
Thương thay chân yếu tay mềm
44 Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.
Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Ngòi bút son thác sống ở tay
Kinh luân chất một túi đầy
48 Đêm đêm Quản, Cát, ngày ngày Y, Chu
Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm
Trăm loại ma mồ nấm chung quanh
Nghìn vàng khôn đổi được mình
52 Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang
Cô hồn thất thểu dọc ngang
56 Mang oan hồn nhẽ tìm đường hoá sinh
Nào những kẻ bài binh bố trận
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
60 Dãi thây trăm họ làm công một người
Khi thất thế cung rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Bơ vơ góc biển bên trời
64 Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn cây nội cỏ dàu dàu
68 Nào đâu điếu tế nào đâu chung thường.
Cũng có kẻ tính đường trí phú
Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn
Ruột rà không kẻ chí thân
72 Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dù có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
76 Thác không đem được một đồng nào đi
Khóc ma mướn thương gì hàng xóm
Hòm gỗ da bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm
80 Tàn hương giọt nước biết tìm vào đâu
Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
84 Văn chương đã chắc đâu mà trí thân
Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
88 Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gởi tha phương
92 Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.
Cũng có kẻ vào sông ra biển
Cánh buồm mây chạy xé gió Đông
Gặp cơn giống tố giữa dòng
96 Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.
Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chỉn rạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
100 Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao.
Cũng có kẻ mắc vào khoá lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
104 Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập loè ngọn lửa ma trơi
108 Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
112 Ai chồng con tá biết là cậy ai
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau đớn tthay phận đàn bà
116 Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu.
Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Rõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cùng một kiếp người
120 Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.
Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc
Gởi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
124 Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.
Kià những đứa tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
128 U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
Kìa những ai chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cội sa cây
Có người gieo giếng thắt dây
132 Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
136 Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc cùng đường lỡ bước
Cầu Nại hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
140 Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ
Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
144 Hoặc là quán trọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
148 Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre
Sống đã chịu mọi bề thãm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong bấy nhiêu năm
152 Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
156 Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Bóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hoà tứ hải quần chu
160 Não phiền trút sạch oán thù rửa không
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhởn nhơ Tiếu Diện Đại Vương
164 Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh
Nhờ Phật lực oai linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào
168 Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như bào như ảnh
Có chữ rằng: Vạn cảnh giai không
Ai ơi lấy Phật làm lòng
172 Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có chi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
176 Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên
Ai đến đấy dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép thiêng biến ít thành nhiều
180 Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh
Phật từ bi hữu tình phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
184 Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.