NHỮNG SỰ LẠ TRONG LÀNG THƠ HÔM NAY

NGÔ MINH

 

 
 

 

 

 

 

* Rượu và Hoa

Tôi vẫn hằng tin rằng thơ là rượu. Rượu thì từ cổ xưa đến giờ vẫn rượu ấy, men ấy. Say cho tận  cõi chân tâm! Rượu ta, rượu Tây vẫn là rượu ấy, khó nhầm! Tôi cũng hằng  tin thơ là hoa. Như cây cỏ, mỗi hồn người  khai nở một hương sắc riêng chẳng giống nhau bao giờ  - nhưng tất cả vẫn là hoa  ấy! Đã rượu thì có rượu nặng rượu nhẹ, có rượu gạo, rượu nho. Đã hoa tất có hoa gốc dại, hoa lai giống, ghép cành. Lai giống ghép cành tạo ra hoa ấy, những  bông hoa lớn hơn, hương sắc quyến rũ hơn.  Nhưng vẫn là hoa ấy, cái đẹp vĩnh cửu ấy!

Cái sự rượu và hoa ấy thật tự nhiên.  Thơ cũng vậy. Có thơ cổ, thơ mới, thơ ta, thơ Tây, lại có thơ do  lai giống mà thành. Đã là lai tạo tất có tốt có xấu, có thất bại, có thành công.Thơ Mới (1933-1945) là đứa con xinh đẹp, quyến rũ của sự lai tạo lớn giữa thi nhân Việt với nền thơ  Pháp thế kỷ XIX. Thơ mới lên ngôi thống  soái thi  đàn Việt  ngoài cái  mới, cái  lạ, cái hay nhiều người đã bàn  đã nói, nó còn chứng  tỏ một điều thật hệ  trọng ít nguời để ý: Có sự đồng điệu lớn trong  hồn thơ Ta và thơ Tây!  Ấy là sự gặp gỡ của Người-nhân-loại!

Thơ Mới rồi cũng cũ đi, vì  con người luôn luôn đi tìm chính mình ở phía trước. Ở phương  Tây, ngay các nhà thơ Việt  Nam vừa tiếp cận với nền thơ lãng mạn Pháp,  thì có nhóm  thơ đã  từ bỏ loại  thơ sụt sùi, sướt mướt này để tìm đến những cách tân trong thơ. Thơ họ dồn nén hơn, khách quan hơn, mạnh bạo  hơn và trần trụi hơn...

Sự đề xướng loại thơ không  vần những năm 50 mà đại biểu là Nguyễn Đình Thi,  Trần Dần, sự táo tợn và  mạnh bạo trong ngôn từ và cấu trúc trong thơ Thanh Tâm Tuyền ở  miền Nam những năm 60  đều gây dị ứng đối với nhiều người  làm thơ, kể  cả các nhà  thơ tiền chiến  mà trước đó trên chục năm họ là lớp tiên phong đổi mới trong thơ. Cho đến tận hôm nay, nhiều  nhà thơ, nhiều tập thơ có  cách biểu hiện lạ hoặc mạnh  bạo,  trần  trụi  hoặc  đi  vào  những  khu vực mới của tâm trạng...đều bị nhiều người chê bác, bị "đánh" tới tấp trên một số báo là "lai căng", "thơ dịch",  "thơ bí hiểm", "hũ nút", "dâm ô", "thơ tục"... Sao chúng ta không bình tĩnh, công bằng,  độ lượng hơn với những tìm  tòi, thể nghiệm như thế? Sự ra đời của Thơ Mới 60 mươi năm trước không là bài học quá hay sao?!

Một và Tất cả

Đọc tuyển  tập "Những gương mặt  mới" gồm 2 tập  (NXB Thanh Niên, 1994) tôi chợt phát  hiện ra một sự lạ lý thú.  Hai tuyển tập với 1000 trang in thơ và phát biểu  của 173 tác giả (chưa là hội viên Hội nhà văn  Việt Nam, nên mới gọi là  gương mặt mới). Trong phần tự bạch hai phần ba số tác giả (trên 100 người) cho rằng thơ hiện nay là  "lạm phát", "dở", "thơ in báo  nhiều nhưng không  khác gì hàng nội hóa  ế ẩm". Có người ví  "thơ hiện nay như mì  ăn liền", "thơ thông tấn",  "thơ dỏm". Thậm chí có một  số tác giả trẻ chưa từng có tên trên thi đàn bao giờ, nay được tuyển vào tập cũng lớn tiếng chê thơ  hôm nay! Sau khi "phán xét"  nền thơ chung, tất cả các "gương mặt thơ  mới" ấy đều khẳng định rằng họ  cố gắng để có được tiếng thơ  "đích thực". Có nghĩa là cái  nền thơ thì dở, chỉ hay nhất họ  là "chân thơ", có nghĩa  là "trừ họ ra", tất  cả đều xoàng cả.

Ôi có  được một hai tác  giả thơ "đích thực",  "chân thơ" như thế thật là diễm phúc cho nền thơ Việt Nam! Nhưng đọc cả trăm nhà thơ ai cũng  lớn tiếng "chê"  thơ chung và  tự nhận mình  là thơ đích thực như thế mới té ngửa ra rằng: Ở xứ ta tất các nhà thơ đều dở, trừ  một người,  đó là  người đang  "phán xét  thơ". Nhưng oái ăm thay, cả nhà thơ duy nhất đó lại  bị 99 nhà thơ khác xếp vào loại thơ "dổm"! Có nghĩa  rằng các nhà thơ Việt Nam ta  tất cả đều "siêu thơ", thật thơ và  tất cả đều "thơ mì ăn liền",  "ế ẩm". Tôi thực sự hoang mang khi sự lạ lùng  buồn cười nói trên có cả trên trang "thảo luận về thơ" của báo Văn nghệ. Nhà thơ nào cũng phán quyết, chê bai thơ hiện  nay, trừ anh ta ra! Cái tương  quan "một và tất cả" này xin các nhà thơ lý giải giùm cho! Biết tin ai đây!

* Thơ và Giải thưởng

Nhìn lại phần thế kỷ 20 đã qua,  chưa bao giờ ở nước ta lại nhiều cuộc thi  thơ, nhiều giải  thưởng thơ như  mười năm lại  đây. Báo Trung Ương thi  thơ, báo địa phương cũng thi  thơ, báo Tiền Phong thi thơ, báo  Phụ Nữ cũng thi thơ.  Quân đội thi thơ, dân  sự thi thơ, các ngành các giới thi thơ. Đã thi là có giải thưởng. Lại có loại giải thưởng  định kỳ hàng năm, hàng năm  năm như giải thưởng Văn học Hội  nhà văn Việt Nam trao hàng  năm; giải thưởng Văn học miền  núi, giải  thưởng Văn  học  thiếu  nhi, Văn  học công  nhân (!).v.v.. Năm  rồi lại có giải  thưởng của Liên Hiệp  các Hội Văn học Nghệ  thuật Việt Nam trao  cho các tác phẩm  xuất sắc của các hội viên địa  phương (!?) Trung ương có giải  thưởng Văn học, các tỉnh cũng có giải thưởng VH cấp tỉnh  ví dụ giải thưởng Văn học Hùng Vương của Vĩnh Phú, giải thưởng Văn học Cố Đô của Thừa Thiên - Huế, "Nguyễn Du" của Hà Tĩnh, Hạ Long của Quảng Ninh.v.v... Có thể nói không ai thống kê hết các giải  thưởng văn học nghệ thuật mấy name qua. Như vậy thơ được thẩm định, được bình giá, được xếp đặt ngôi thứ liên tục và các nhà thơ được giải cũng nhiều không kể xiết.

Ở địa phương nọ,  tôi thấy trong mấy năm qua  có chục anh chị làm thơ, lần lượt người nào cũng  được giải thưởng không cuộc thi này thì  cuộc chấm  khác. Thế  là cuối  cùng thơ  ai cũng đương nhiên thuộc vào loại "thơ được giải" (tức thơ hay)!. Nhìn rộng ra cả nước cũng vậy, trong chục năm qua  có tới hai phần ba số hội viên thơ của Hội  Nhà văn Việt Nam đã  được lên ngôi do giành  được các giải thưởng  về thơ trung ương,  địa phương, các cấp,  các ngành, các báo. Đương nhiên cuộc thi thơ  nào cũng "rất" công tâm và "vì nghệ thuật"! Cũng cần nói thêm  là nhiều loại giải thưởng văn học (trong đó có thơ) như thế cũng phát triển với kinh tế thị trường. Giá trị vật chất các giải thưởng thơ ngày càng "đậm đà" hơn. Từ 2 triệu, 5 triệu một  giải nhất cách đây năm ba năm  nay đã lên tới 10, 15 triệu!  Hàng tốt thì giá phải  cao chứ! Như vậy là  thơ ta đang phát triển. Cứ nhìn vào đội  ngũ trùng điệp các nhà thơ nhận được giải thưởng của xứ ta ai dám bảo thơ không phát triển?!

Ấy thế mà  lạ lùng thay, nhà thơ,  nhà phê bình nào cũng  kêu ca, la ó về một nền thơ làng nhàng, chỉ biết "ăn theo" trên các trang báo. Có điều gì  bất ổn, chính xác hơn là sai  lạc ít nhất là một trong hai phía:  các nhà chấm giải và các  nhà phê bình, phán xét thơ. Còn bản thân thơ thì cố  nhiên nó vẫn thế, chưa có cuộc cách mạng thực sự  nào trong thơ từ thơ  Mới đến nay. Biết ai  đúng ai sai mà phân xử đây?

Ai là "nhà thơ"?

"Nhà thơ", hiểu  nôm na là "người làm thơ",  cũng như "nhà nông" là "người làm ruộng", "nhà giáo" là "người  dạy học". Ấy là cách gọi tên theo công việc  làm. Cái danh xưng "nhà nông"  ấy không hề có các thứ  bậc  kèm  theo  như  "nhà  nông  trung  ương", "nhà nông địa phương", "nhà nông trẻ", "nhà nông mới"...bao giờ cả! Nhà nông ít chữ nghĩa họ  lại hiểu rất đúng nghĩa chữ  "nhà nông" của mình, còn các nhà  văn thì sao? Xin  thưa đây là sự  lạ! Nhà thơ An  Nam có "nhà thơ trung ương", "nhà thơ địa phương", "nhà thơ trẻ", "những gương mặt thơ  mới".v.v.. Tất cả đều được xếp  ghế, xếp chiếu rất cẩn trọng như các loại cấp bậc nhà binh hay học hàm học vị trong khoa học. Do sự xếp ghế, xếp chiếu ấy mà "các nhà thơ trung ương" có cách ăn nói, phán xét theo  một thứ ngôn ngữ riêng phù hợp với "địa vị cao" của mình. Sự lạ ấy ai cũng biết từ rất nhiều năm nay nhưng ai cũng tuân thủ không chống lại. Buồn hơn là không ai ngạc nhiên với điều đó cả.

Lạ lùng  hơn nữa là  có "một  qui  định không thành  văn" nào đó, không  hiểu xuất  phát từ  ông "quan  thơ" nào,  người ta chỉ gọi những người làm thơ là hội viên  Hội nhà văn Việt Nam hiện nay là NHÀ THƠ, còn những người làm thơ khác đều không phải! Xin nêu một ví dụ sốt dẻo nhất. Trong tuyển tập 2 tập ngàn trang "Những gương mặt thơ mới" mà  tôi có nhắc  tới ở trên. Nhà  xuất bản  và người tuyển chọn đã xếp các nhà thơ có tên tuổi ở miền Nam (cũ) như Bùi Giáng, Nguyên  Sa, Du Tử Lê, Tuệ Mai...vào "Những gương  mặt Thơ mới" tức là lớp thơ "đàn em", mới phát hiện ra hay mới xuất hiện! Thực ra các ông  Bùi Giáng, Nguyên Sa...đã là nhà  thơ nổi tiếng trong những năm 60 của thế kỷ, khi mà nhiều nhà thơ Việt Nam "tức của Hội nhà văn Việt  Nam) chưa biết thơ là gì! Tôi  là một người làm thơ đi học và trưởng thành ở miền Bắc cũng thuộc được đôi bài của Bùi  Giáng, Nguyên  Sa...từ mấy  chục năm  trước, sao  lại gọi là "gương mặt  Thơ mới"? Có phải  tại các ông không  là hội viên Hội nhà văn Việt Nam? Lạ thật!! Lạ thật!!

* Thảo luận gì?

Có ai đó thống  kê rằng, ở xứ ta mỗi ngày bình  quân có 2 tập thơ được ấn hành. Có  nghĩa là mỗi năm khiêm tốn cũng  có tới 600 tập thơ. Đó  là chưa kể  thơ in trên  350 tờ báo  và tạp chí  ở trong nước, thơ của  người Việt ở Hải ngoại. Nhiều người  gọi thời kỳ này là "Giai  đoạn bùng nổ  thơ". Có người  lại lo rằng,  "thơ bị lạm phát", bị xuống  giá. Có người lại mừng: có "bó đũa ắt  có coat cờ". Người  già trong làng  thơ (hoặc sắp  vào tuổi hết  sáng tạo thơ) thì ca cẩm thơ lớp trẻ thiếu vốn sống, thiếu chiều sâu và sự điềm đạm, thiên về xảo thuật chữ,  ngoa ngôn! Lớp trẻ lại ngán thơ lớp già cứ giữ mãi điệu "ru em" vần vè ê a cũ, cứ như đặt lời mới cho các  làn điệu dân  ca đã có sẵn  từ ngàn năm!  Thế là thảo luận, tranh luận. Thế  là sừng sộ, đao búa chan  chát. Cuộc chiến không có hồi kết trên các mặt báo.

Trong lúc  đó một hiện tượng  lạ xuất hiện trong  thơ mấy năm gần đây lại rất ít nhà phê bình chú ý phân tích. Đó là sự trở lại của Thơ tình "kiểu tiền chiến". Buồn  chán, ủ ê, đau khổ, tuyệt vọng, sướt mướt. Loại  thơ tình (nam nữ) này  chiếm hơn hai phần ba số thơ  ấn hành hàng ngày.  Những người đang yêu  làm thơ tình đã đành, những người không có mảnh  tình rách cũng làm thơ tình! Đến cả các nhà  thơ già lớp chống Pháp, các  nhà thơ "tiền chiến" bảy tám chục tuổi cũng trở lại với thơ tình! Phải chăng chúng ta đang ở xứ sở của tình yêu? Tôi không phản đối thơ tình. Nhiều thơ tình càng tốt  chứ sao! Nhưng  tôi thấy lạ  là những bài  thơ thể hiện thiên chức công  dân của nhà thơ, những bài  thơ chiến đấu cho sự công bằng  xã hội, chia  sẻ số phận  đắng cay của  người lao động trước sự  áp bức của bất  công và cường quyền,  những bài thơ thế thái nhân tình.., từng nở rộ  trong những năm đầu "cởi trói", "mở cửa" bây giờ thấy thưa vắng, hiếm hoi dần đi. Vì sao vậy? Có phải là các nhà thơ Việt Nam không  tiếp cận được với xã hội thời kinh tế thị trường đang phân cực quyết liệt, nhiều nguy cơ mới đối với nhân phẩm và đạo lý đang xuất  hiện và tác oai tác quái? Có phải các nhà thơ  đã hèn kém đi, ích  kỷ hơn, hay tại môi  trường sáng tạo đã đổi  khác? xin mạo muội đặt  một câu hỏi lớn ở  đây để các nhà lý luận, phê bình, các nhà  thơ cùng nhau thảo luận. Hãy thảo luận điều gì làm cho thơ có ích lên với đời, với người, với chính sự bùng cháy kỳ diệu của thi ca tự do!...

Viết cho ngày sinh nhật thứ 45

 

 

 

Last modified on 10/23/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC