THƯ VỀ THƠ

Đỗ Quyên

 

 
 

 

 

 

 

Thơ và  biển cả. Chúng  có phải là  nhau không hở  bạn? Tôi không phải con nhà sông biển. Tôi chả phải là dân thơ thực thụ. Đến với biển khi  tôi ở tuổi thiếu  nhi, chớm và láng  máng nhận ra thiên nhiên thật rộng lớn. Đến với thơ  hồi tôi lún phún ria mép, những cảm giác về tình yêu đôi lứa  chợt đến, bỗng đi. Bãi biển Đồ Sơn. Những con sóng biển đầu tiên ập vào cơ thể. Một buổi chiều phẳng, phẳng từ  mặt biển đến  không khí bao  trùm khu nhà  nghỉ. Tất cả không cuốn hút tôi. Chúng còn khiến  tôi sợ và có phần chán biển. Câu chuyện bên hồ của một cặp tình nhân bất hạnh bởi chiến tranh: bài thơ  đầu tay của tôi.  Nó không làm tôi  rung rinh trong bóng râm huyền  ảo của thơ như  tôi từng tưởng tượng.  "Thế là thơ à?" "Chưa là thơ, nhưng là tình!" Khoảng cách giữa câu hỏi và câu trả lời là...20 năm! Bây giờ, hôm nay,  tôi mới đáp được. Còn câu hỏi thì thằng em trai  kém tôi hai tuổi đặt ra sau  khi nghe xong bài thơ.

Bạn ạ, thế  nhưng càng về sau tôi  càng thèm ra biển -  đó là một điều chắc  chắn! Và, càng  về sau  tôi  càng có thơ  (thơ hơn thì  phải?).

Trừ những  khi cảm hứng  bột khởi, thường  tôi rất "run"  mỗi khi "bắt  tay" toan  làm một  bài thơ  có ý,  tứ hoặc  nguyên cớ định trước. Những người  đi biển chả thường hồi  hộp, trang nghiêm đấy thôi  mỗi lần  giương buồm,  kéo neo  ra khơi.  Gầm thét, biển đã "nói"  quá  nhiều.  Phẳng  lặng,  biển  còn  nói  nhiều  hơn. Khi con-bệnh-thơ oằn oại trên cơ thể bạn, nơi khóe mắt, ở mỗi cơ bắp; và khi  bạn ngây đần  ra, vô cảm  vô giác. Tôi  không tin nếu  là người làm  thơ thực sự bạn  lại trong trạng thái  trung gian giữa hai trạng thái trên ở lúc có một thao tác thiêng liêng: làm thơ.

Trong tầm nhìn  của con ngươi con người, biển  không có giới hạn. Thơ không  có sự chừng mực,  khôn giảo. Biển không  thu nhận tính trung dung. Thơ  cần sự hết mình. Những ai  dưới vòm trời này cần tự do nhất và có tự do nhất? Dân biển và thi sỹ. Gần tự do là gần mất mát, gần cái  chết. <I>Gần tự do là xa loài  người, xa cuộc sống thường nhật.<D> Có phải vậy không hỡi những người trên biển và những người làm nên thơ - những người can đảm nhất trong số những người can đảm?

Thơ và toán học có nhiều điểm  trùng phùng đáo để! Trước nhất, cả hai đều  là địa hạt  của tưởng tượng.  Rất nhiều người  mệnh danh hiểu biết mà vẫn lầm tưởng các nhà toán học là kẻ khô khan, trong khi họ -  những nhà toán học - lại  là những nhà-mơ-mộng, mơ mộng ngang ngửa với  các thi nhân! Hai giáo sư toán trò chuyện... "Cái tay T., học trò  yêu nhất của ngài, dạo này đâu  rồi?" "Hắn đã bỏ đi  làm thơ!  Thật tiếc,  hắn  không  đủ trí  tưởng tượng  để học toán!"... Chuyện hài này không mới.  Bạn không cần phải cười lại; dụ ý của tôi muốn nói rằng tôi tìm thấy mình trong đó. Bởi tôi đã từng yêu  (từ ngày còn mặc  quần hở đũng) toán  học tha thiết, và nay còn da diết yêu; nhưng toán học nó chẳng yêu tôi, dẫu đã ăn ở với nhau những bằng cùng cấp! Tôi với thơ chỉ như hai người khách vô tình trên vài chuyến đò ngang, mà duyên tình ngày một thắm.

Những phát minh lớn trong toán học  chỉ xảy ra với những người có độ tuổi 20-25,  cùng lắm là tới 30.  Đố bạn ở thơ có  quy luật đó không?

Mỗi bài thơ, ít nhất, nên là một lần "cách mạng" trong con người, tác phẩm nhà thơ. Lớn hay nhỏ, ý hay tứ, thể loại hay ngôn ngữ... Tùy! Miễn là có...cách mạng! Người toan viết các câu thơ mà không nghĩ được thế, tôi  nói mặc kệ sự mất lòng, thì  đừng nên biến dự định đó  thành hành động!  Bạn cho tôi  là tên hiếu  chiến! Thôi, không gọi là  cách mạng nữa. Mà gọi  là cái mới, cái sáng  tạo. Ở nhà thơ nhỏ, cái  mới đó có giá trị đối với  chính nhà thơ. Ở nhà thơ choai choai, cái mới đó có giá trị cho bản thân nền thơ ca. Ở nhà thơ lớn, cái  mới đó có giá trị cho cả  xã hội, thời đại. Tựu trung, phàm đã là thơ thời phải  mới. Bạn điểm lại xem, thời nào, ở đâu, phần lớn các cách mạng gia đều biết làm thơ, biết yêu thơ. Thơ là  "cách mạng", là  máu. Tí nữa  ta lại bảo  thơ là tình, là nước mắt! Thật khốn nạn cái thân thơ!

Tôi không khi nào tin rằng những  người làm thơ lại không phải là những người yêu. Mạnh hơn nữa,  tôi còn muốn nghĩ: thói thường ai làm thơ hay  hẳn phải yêu nhiều lắm. Với  những người bình thường yêu là điều  kiện cần để làm ra  thơ. Với các tài thơ  thì yêu là điều kiện cần và  đủ: kẻ tài thơ chỉ cần yêu  là đủ thành thơ và, ngược lại, khi hắn đang làm thơ có nghĩa là hắn đang yêu.

Rất đáng phục các  nhà thơ ít nói về tình ái,  mà thơ vẫn hay! Đó là những nhà hàng hải lại không thèm...biết bơi!

Các nhà thơ trữ tình lớn biến được ý riêng thành tình chung, biến được tình lứa đôi thành ý nhân loại.

Người có thơ hay vẫn có thể là người không biết cách yêu, song ắt hẳn đó  là những kẻ biết  buồn. Buồn, trong ý  nghĩa này, là điều kiện cần để thơ hay. Bạn có thể thấy bài thơ nào hay mà thiếu cái buồn ở trong đó không? Xin cho  biết... Buồn là hậu quả khó tránh của yêu. Yêu mới có thơ, buồn  mới ra thơ hay. Nỗi buồn chưng thơ thăng hoa, nuôi thơ trường thọ. Mà này, ngoài thi sỹ, mấy ai biết tái tạo từ  sản phẩm tồi đó -  nỗi buồn - ra sản  phẩm mới có giá trị đến thế cho loài người?

Người thơ quả  có hiếm, còn những người yêu  thơ, những người làm thơ, những tài thơ...thật nhiều. Nhiều vô kể, nước Nam ta. Ở Việt Nam ra  ngõ gặp thi  nhân. Điều này  ai cũng rõ.  Hôm nay tôi còn muốn nói thêm thế này: có dễ Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô (cũ) là ba nơi người  dân yêu thơ nhất thế gian? Chưa  bôn ba hoàn vũ, tôi vẫn cảm tưởng vậy. Cậy  nhờ các chuyên gia về thơ, về đất nước học kiểm chứng?

Ở Việt Nam, câu của Nguyễn Bính được nghiệm đúng: "Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ". Với Trung Hoa  cảm tưởng của tôi dễ được minh xác. Văn hóa  Trung Hoa dường như đông  lại ở thơ phú. Ở  Liên Xô (cũ) thơ còn  bị cạnh tranh bởi tiểu thuyết,  hội họa, âm nhạc... nhưng vẫn được  coi như đế vương. Dân Nga  không có tục ngâm thơ, vịnh thơ như ở ta, ở Tàu mà  lại đọc thơ. Tiếng Nga chứa thơ tính cao, nhất là về âm điệu. Tôi  đề nghị các nhà ngôn ngữ thử nghiên cứu xem tiếng Nga sinh ra có phải để dành cho thơ hay không. (Nếu điều đó đã  có trong các sách giáo  khoa về ngôn ngữ Nga  thì tôi rất ân hận về sự ít hiểu biết của mình!) Các buổi đọc thơ thu hút cả trăm, ngàn khán, thính giả là  một nét tiêu biểu cho sinh hoạt công cộng ở xứ sở của bạch dương  và tuyết. (Mấy chữ cuối câu vừa rồi ngụ ý thiên nhiên, cảnh vật  Nga đáng thành thơ.) Bạn biết không, dạo ấy,  mỗi khi đi  dưới pho tượng  Maiakovxki đứng đọc  thơ, tôi tưởng như độ thơ trong mình đang  nâng cấp! Không rõ ở Trung Quốc ra sao chứ  ở Nga và nhiều nước  cộng hòa khác thuộc Liên  Xô cũ, tôi đã nhìn thấy nhiều cuốn  sổ nhỏ, nan nát...chứa một cách vụng về các bài  thơ, đoạn thơ cùng các  hình vẽ minh họa ngô  nghê về tình ái. Chủ các cuốn sổ đó là những cô, cậu ở các lớp cuối trung học, các năm đầu đại học. Sao mà  y như ở Việt Nam mình, bạn nhỉ? Bên  các xứ  Hoa Kỳ,  Canada...có chuyện  vậy không?  Tôi ngờ  là không.

Một sự trùng  hợp đến là buồn: Cả  ba quốc gia yêu thơ  đó đều có thời (bị) yêu chủ nghĩa cộng sản nhất thế giới! Dễ hiểu: Học thuyết cộng sản  trong thành phần hoang tưởng của  nó chứa độ thơ khá cao.

Tôi vừa ngẫm ra cái buồn cười này: Thuyết cộng sản sinh hạ ở Đức; ngày xửa ngày xưa  thì không nói chứ bây giờ dân  Đức đâu có chầm bập những  chuyện thơ thẩn!  Bằng chứng: Tôi  vẫn thường bị  nhân viên giao thông phạt thẳng thừng mỗi  khi mải làm thơ trên tàu xe mà đi  quá ga. Bên  Nga á,  trong  các trường hợp  tương tự không những chả bị  mất copech nào tôi còn được  các bác soát vé thưởng lời khen "Mơ-la-đét!" (Khá lắm!). Ba năm nay ở Đức, dường như tôi chưa dòm thấy  trên ti-vi những buổi người ta  làm gì đó với Nàng Thơ. Rất có thể  khả năng ở tôi còn đuối để  phân biệt thơ và văn xuôi trong tiếng Đức...

Tôi để ý thấy phần lớn các  nhà thơ thường gốc gác thôn quê. Thật vậy, chất  liệu thường và  chất liệu thiên  nhiên - hai  trong ba chất liệu làm nên thơ - ở nông  thôn rõ ràng nên thơ hơn ở thành thị. Oái ăm: Chẳng lẽ vì thế các  nước nông nghiệp lạc hậu lại là mảnh đất tốt để thơ phát triển?

Nhiều người  cứ lo xa. Tôi  chả lo! Khoa học,  công nghệ hiện đại cách mấy cũng không thể lấp cả  mặt địa cầu bởi những lô nhà chọc trời. Là những  cái nôi của thi ca, biển  hồ, núi non, những cánh đồng, những  áng mây...phải là bảo  vật vĩnh cửu của  loài người. Tôi đang định gọi Hội Nghị Quốc Tế Bảo Vệ Môi Trường ở Brasil vừa rồi - nơi  tụ hợp hy hữu tất  cả các quốc gia trên  địa cầu trong không khí hữu hảo - là hội nghị bảo vệ thi ca. Chính xác hơn: Bảo vệ cái chân-quê của thi ca.

 

 

 

Last modified on 10/23/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC