VỀ MỘT XU HƯỚNG ĐỔI MỚI THI PHÁP THƠ HIỆN NAY

ĐỖ LAI THÚY

 

 
 

 

 

 

 

1. Văn  học Việt Nam, nếu  nhìn từ thế kỷ  X trở lại đấy,  có thể chia thành  hai giai đoạn. Chín  thế kỷ đầu là  thời gian văn học dân tộc  tiến đến sự hòa  nhập vào khu vực,  từ cơ tầng Nam  Á và Đông Nam  Á chuyển sang  Đông Á, còn  thế kỷ sau  cùng, thế kỷ mà chúng ta sắp sửa kết thúc, là hành trình tiến tới sự hòa nhập vào văn học của thế giới hiện đại. Đến đây xin mở ngoặc nói thêm, tôi nói hòa theo nghĩa hòa nhi bất đồng còn dân tộc thì không phải là một thực thể  khép kín, nhất thành bất biến,  mà là một khái niệm mở, luôn biết  tiếp nhận những yếu tố ngoại  sinh để tự làm phong phú mình. Bởi vậy thếđi của văn học Việt Nam  thế kỷ XX là hiện đại hóa, thế  giới hóa. Tuy nhiên, do lực,  nhất là nội lực, chưa đủ mạnh,  nên hành trình này  không phải là con  đường thẳng, đơn tuyến và không có những khúc quanh.  Nhưng xã hội đã hiện đại hóa thì không  có cơn cớ  gì mà văn  học không hiện  đại hóa. Có điều trên thực  tế, đôi bên  nhiều khi  có  sự lệch pha  thời gian. Có nhiều người, nhất là những bậc trưởng thượng, thường cho rằng văn chương chỉ cần hay xá gìmới, hiện đại!  Đúng vậy, mới, hiện đại chưa chắc đã hay, càng không  đồng nghĩa với hay. Nhưng thơ Đường cách ta hơn ngàn năm mà nay  đọc vẫn thấy xúc động, vẫn thấy hay, vậy ta có nên cứ viết theo thi pháp của thơ Đường không? Hơn nữa, người ta có thể bắt chước được  bút pháp Đường thi, nhưng liệu có túm bắt  được cái hồn Đường  thi, sản phẩm của  một thời đại tổng hợp  triết học  Phật giáo  và triết  học Lão  Trang? Thiết tưởng, những câu hỏi này đã được thực tiễn của phong trào Thơ Mới trả lời rất đẹp rồi. Ở đây tôi chỉ xin  nhấn rằng cái hay (cái đẹp) thuần túy của thơ muôn đời  có thể chỉ là một, nhưng sự  hiện thân của nó ở mỗi thời  mỗi khác tùy  theo hồn thời  đại. Bởi vậy,  mỗi nhà thơ phải có một tiếng nói riêng, thi  pháp riêng để giáng lâm cái hay muôn thuở,  cái đẹp phi  hình thể của  thơ. Tôi phải  mào đầu một cách "biết rồi, khổ lắm, nói mãi!"  như vậy, chẳng qua là tạo một ngôn ngữ chung và một toàn cảnh để thấy những tìm tòi về thi pháp của thơ  hiện nay cũng là  chuyện bình thường, nằm  trong mạch đi chung của đất nước và thời đại.

2. Tôi không đồng với những ý kiến cho rằng thơ hôm nay về cơ bản là sự nối dài hay mùa quả chót  của Thơ Mới  (tức thơ Lãng mạn, Tượng trưng, và  Siêu thực xuất hiện trước 1945),  bởi vì thơ hôm nay được xây dựng trên một cơ  sở hoàn toàn khác với Thơ Mới. Thơ Mới là tiếng  nói của cái tôi cá  nhân, của tầng lớp trí  thức đô thị bấy giờ. Thi  nhân thuở ấy làm thơ để hóa  giải những dồn nén của phận người, những khắc khoải siêu hình. Đó là sự đột khởi của một quá  trình hỗn dung văn  hóa Đông Tây được  chuẩn bị từ trước đây. Chính không khí này đã đẻ ra  một lứa thi sĩ có tài và trình độ văn hóa kịp chín khi tuổi đời còn rất trẻ, điều kiện thiết yếu để họ làm cuộc cách mạng thơ.  Thơ Mới đã đạt được những đỉnh cao trong Lãng mạn  (Thế Lữ), một phần ở Tượng  trưng (Bích Khê, Phạm Văn Hạnh) và Siêu thực (Hàn Mặc  Tử). Nó bị kiệt lực với Xuân Thu Nhã Tập, một trường thơ kém năng sản, bởi sự lỗi nhịp giữa một cá nhân tôi và một  cái ta siêu hình, giữa một đầu  óc duy lý Phương tây và một lý thuyết đạo học áp dụng vào thơ kiểu phương Đông vốn cần trực  giác. Hơn nữa,  đó cũng là  sự kiệt lực  của cái tôi cá nhân vốn thiếu cơ  sở văn hóa - xã hội, không  chịu nổi gánh nặng cô đơn, nên muốn hòa tan mình  vào cái ta. Bởi vậy, khi Cách Mạng Tháng Tám  đến, hầu hết  các nhà thơ  đều chào đón  và sau đó  tự nguyện tham gia  kháng chiến, tự nguyện hòa cái  Tôi của mình vào cái Ta  cộng đồng, cái  ta dân tộc.  Như vậy, thơ  kháng chiến đã được xây cất  trên một cơ sở hoàn  toàn khác với Thơ Mới:  từ đối tượng thưởng thức  thơ, chức năng thơ, đối tượng  cảm xúc của nhà thơ đến ngôn  ngữ nghệ thuật. Đây cũng là  sự nới rộng đường biên của thơ, nhất là về mặt xã hội.

Từ cơ bản khác nhau này, thơ  kháng chiến ắt phải có một thi pháp khác với thi pháp Thơ Mới. Bởi lẽ, thi pháp đâu phải là chuyện kỹ thuật thuần túy, mà đằng sau nó là quan niệm thẩm mỹ, là tư tưởng triết học,  là cái nhìn  thế giới.  Đây  đó người ta  có thể thấy những câu  thơ, những bài  thơ về thân  xác giông giống  Thơ Mới, nhưng thực ra  chúng chỉ là những mảnh vỡ  của một thi pháp trước còn  vương  lại.  Ai  cũng  thấy Mưa  xuân  trên biển, Bến Trung Hà... như  có hơi  bướm của Buồn đêm  mưa, Tràng  Giang nhưng đó không còn là thi pháp của Lửa  thiêng, mà là thi pháp của một Huy Cận hậu Thơ Mới. Vậy thi pháp của thơ kháng chiến thế nào? Có thể đó là sự gia tăng của yếu tố  truyện kể, của chất văn xuôi, sự mở rộng đề  tài, đại chúng hóa  ngôn ngữ, không gian  nông thôn, con người xã hội, ít chất nội tâm  và thiếu vắng những băn khoăn siêu hình? Rất cần các nhà nghiên cứu, phê bình mô tả và nhận diện nó. Riêng tôi  có cảm giác  rằng thi pháp  thơ kháng chiến  không đơn thuần phát  triển trên cơ sở  Thơ Mới mà trên  cả nền tảng truyền thống của thơ trước 1930, thơ của các chí sĩ Cần Vương, các chiến sĩ cách mạng và sau này của  thời Cách Mạng Tháng Tám. Hơn nữa nó mang được cái hồn của thơ ca dân gian. Những bài thơ hay nhất của Tố Hữu là một dẫn chứng sinh động về nhận xét này. Tuy nhiên, thơ sau 1945 không phát triển đơn tuyến mà luôn luôn có những lối rẽ, những cành nhánh. Phải chăng đó  cũng là bản chất của nghệ thuật: cái đẹp phi  hình thể riêng biệt do  sự sáng tạo cá nhân,  và nhà thơ, dù hữu  thức hay vô thức, đều khao  khát biểu hiện mình. Bởi vậy, đã có rất nhiều những tìm tòi các hình thức biểu hiện riêng, nhất là sau năm 1975. Có thể nói  về một sự được mùa các nhà thơ. Trong một  nhát cắt đồng đại,  người ta thấy đồng  tồn khuôn diện của các nhà  thơ đủ mọi thế hệ.  Một sự tìm kiếm đa  phương có vẻ gần với một ứng xử xã hội: Có  sự đi từ cái ta cộng đồng sang cái ta triết lý. Có sự trở về với  cái tôi cá nhân riêng tư. Có sự đi tìm một  hài hòa giữa  cá nhân và  cộng đồng, đi  tìm những chiều kích mới của tâm hồn... Trong sự  đa giọng điệu đó, người ta thấy sự sù sì, khỏe khoắn của Thanh  Thảo, sự buông thả phá cách của Ý Nhi, cái cô đọng  suy tư của Trúc Thông, cái hóm  hỉnh dân dã của Nguyễn Duy (rất khác với Nguyễn  Bính), cái bất chợt mà thâm trầm sâu sắc của Hữu Thỉnh... Tuy vậy,  tôi vẫn có cảm giác là các nhà thơ này chưa chịu "chơi hết mình",  đẩy tới cực hạn những tìm tòi của bản thân.

3. Gần  đây người ta  bàn nhiều  đến  những tìm tòi  thi pháp của Hoàng Hưng (Ngựa biển, Người đi tìm mặt), Trần Dần (Cổng tỉnh và một số  bài thơ lẻ  tẻ), Đặng Đình  Hưng (Bến lạ,  Ô mai), Lê Đạt (Bóng chữ), Nguyễn Quang Thiều (Sự  mất ngủ của Lửa)... Kể ra đây cũng chỉ là một trong những sự đi tiếp những tìm kiếm sau Thơ Mới của Trần Mai  Ninh (Nhớ máu), Hữu Loan (Đèo  cả), Nguyễn Đình Thi (Đêm mít  tinh) trong kháng chiến  chống Pháp, đi tiếp  con đường hiện đại hóa thơ theo yêu cầu của thế kỷ.

Ở đây, trước hết là sự thức nhận  ngôn ngữ thơ. Hóa ra, trong thơ ngôn ngữ không phải là con đò.

Những tìm kiếm để nới rộng ngôn  ngữ thơ ở mỗi người mỗi khác, cả mức độ lẫn hướng  đi. Thơ nói chung, dựa vào cả  hai bình diện âm thanh và ngữ nghĩa. Những thể nghiệm có khi cực đoan chỉ nhấn vào một  bình diện.  Có sự  đẩy tới  mặt âm  thanh. Xu  hướng "thơ âm thanh" này có thể  quyến rũ người đọc bởi một thứ  âm nhạc mơ hồ, đôi khi,  nói được những  điều mà ngôn  ngữ người bất  lực. Nhưng khác với âm thanh của âm nhạc,  âm thanh của ngôn ngữ người là âm thanh có nghĩa, nên thơ không thể  lạm dụng hình thức âm vô nghĩa này. Trên  thực tế, thơ ca  cũng chưa từng biết  đến tác phẩm nào theo "thuyết âm chữ" (lettrisme) mà đứng vững được với thời gian, nhưng việc sử dụng nó như một thủ pháp thơ để làm giàu mình thiết tưởng cũng  là cần thiết. Một  xu hướng khác lại  nghiêng về khai thác mặt  ngữ nghĩa của  ngôn ngữ thơ,  bỏ qua những  hài âm, vần điệu, ngắt dòng...,  để chú trọng vào ẩn dụ.  Đẩy đến cùng, đó là "thơ ngữ nghĩa" với Ô mai của Đặng Đình Hưng. Loại "thơ văn xuôi" này đã được thơ thế giới khẳng định với Một mùa ở Địa ngục của Rimbaud, ở  Việt Nam trước 1945  với Giọt Sương Hoa  của Phạm Văn Hạnh...

Có một điều vẫn làm tôi thắc mắc là những đổi mới về thi pháp này so với  nền thơ chung  hiện nay không  thể là "ghê  gớm", là "đảo lộn" so với sự cách tân của Thơ Mới đối với thơ thất ngôn bát cú. Vậy mà thời ấy, sau chút ngỡ  ngàng về sự ngô nghê của Xuân Diệu, người ta chấp  nhận ngay Thơ Mới, và tôn  vinh nhà thơ "Tây" nhất này là ông Hoàng thi ca.

Có thể bấy giờ bạn đọc, dù là bạn đọc thông thường, cũng không lạ gì Hugo,  Baudelaire, Rimbaud, Verlaina...  Thơ Mới dễ  được chấp nhận vì nó đáp  ứng nhu cầu của chính bạn đọc.  Ngày nay, có thể, sau bao năm  chiến tranh, sự tiếp xúc trực  tiếp và đồng thời của độc giả Việt  Nam với thơ hiện đại  thế giới còn ít ỏi.  Người ta hay dị  ứng với cái lạ  và chưa có nhu  cầu đổi thay mỹ  cảm. Bởi thế, những tìm tòi về thi pháp  thơ này còn chưa giành được thiện cảm của số đông.

Ở đây tôi muốn nói thêm một điều rằng thay đổi là một chuyện, còn thành công và thành công đến đâu  lại là một chuyện khác. Nếu thơ là một  cuộc chơi, thì người  dám cược cả đời  mình vào cuộc chơi may rủi này, thiết nghĩ, đáng được tôn trọng. Có người ví thơ thể nghiệm giống  như thuốc tây đang  chế thử chỉ nên  để trong phòng thí nghiệm chớ bán ra. Nhưng thơ không phải là thuốc và phòng thí nghiệm của  thơ là thời gian  và công chúng. Huống  hồ, những đổi thay thi pháp hiện nay không còn ở dạng thể nghiệm nữa. Có thể sự tiếp nhận thơ này còn ít. Nhưng,  biết đâu, với thời gian, với sự mở cửa  của đất nước, với  sự tiếp xúc thông  tin hiện đại..., số phận của nó sẽ khác.

4. Nhân loại hiện nay đang bước  vào một bối cảnh văn hóa mới: từ nền sản xuất  công nghiệp hiện đại tập trung  quy mô lớn (mà đằng sau nó  là các bãi  phế thải) sang  nền sản xuất  tin học phi tập trung hóa quy mô nhỏ và vừa (nền  văn minh trí tuệ), từ sự duy lý cực đoan, duy  khoa học tìm về với minh  triết, với trực giác, từ chủ nghĩa cá nhân  đối lập với cộng đồng đến cá  nhân hài hòa với cộng đồng...

Trong nền văn hóa  này, những yếu tố bấy lâu nay  vẫn được coi là ngoại vi (của thế giới) sẽ đi  vào trung tâm. Sự hòa nhập của văn học Việt  Nam vào thế  giới trong khung  cảnh đó sẽ  có nhiều khó khăn nhưng không ít thuận lợi. Vấn đề là ở chỗ trong tiếp xúc với người tự  điều chỉnh mình,  và dẫu có  hòa nhập thì  thơ Việt Nam không thể bỏ mất cái địa chỉ tinh  thần của nó đó là tâm hồn Việt Nam, văn hóa Việt  Nam. Thơ, với sự nhạy cảm vốn  có của nó, hình như đang làm điều này. Những nhà  thể nghiệm, sau khi đã biết được giới hạn  của "vật liệu" ngôn  từ và ngưỡng tâm  lý dân tộc, biết bình tĩnh hơn. Còn những nhà thơ  ưa thích sự quen thuộc cũng dần dà thắng được cái "bản năng thứ  hai" của mình để hướng về thế kỷ 21. Sự chuyển mình đồng bộ này  sẽ làm cho các cuộc tranh luận về thơ mang tính chất học thuật hơn xứng với tầm của những vấn đề do bản thân thơ đặt ra. Một cuộc "cách mạng thơ ca" mới mà mọi người đều hy vọng chỉ có thể thực hiện được khi số đông các nhà thơ đều bắt tay vào và công chúng thấy là cuộc "cách mạng của mình" trong một bối cảnh văn hóa mới.

 

 

 

Last modified on 10/23/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC