BÓNG CHỮ HÌNH CHỮ

Trần Đình

 

 
 

 

 


Người cầm bút đều biết chữ là quan trọng. Anh muốn người đọc cảm, nghĩ, làm theo anh - thậm chí phải lòng anh - thì anh phải lụy con rồng chữ. Chả thế người xưa vì chữ với châu ngọc. Tài nhả ngọc phun châu. Và Đỗ Phủ ước có những chữ làm quỉ thần khiếp kinh để chết nhắm mắt được. Nhà sư Giả Đảo thì đóng kịch câm dưới trăng để kiểm tra qua sinh-cơ học cái hơn thua của hai chữ gỗ đầy.

Chúng ta nói “chữ đắt”, chữ đúng chỗ. Nghĩa là: 1. chữ chỉ giá trị trong một môi trường cộng sinh chữ làm nổi nó lên, và 2. nó ngược lại giúp được cả cái đội hình chữ đối tác cùng phát sáng. Song thơ như con tạo oái oăm cài cho một cái còng: phải cô đúc. Định nghĩa thật triệt để thì thơ là chữ. Không được độn quá đỗi xu hào, củ đậu, đấm chém vào. Đừng có phừng phứng phưng phưng vê hoài vê hủy câu thơ cho sờn bợt dây thơ lên. Những điều này chẳng còn ai la. Như chẳng còn ai dại dột đi tìm chữ không nghĩa trong cái thời tin học đại trà sang cả Việt Nam ta này.

Tôi ngạc nhiên thấy Trần Mạnh Hảo phê bình gay gắt Lê Đạt chủ trương: chữ không nghĩa (!).

Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo nói Lê Đạt vã mồ hôi mồ kê đánh vật với chữ. Chữ vô nghĩa, xác không hồn thì hoài hơi gì đánh mật? Nó cứ tuột xả láng nó ra mà thôi. Cái chữ chúng ta phải đánh vật mồ hôi mồ kê là cái chữ có nghĩa, nó như một bóng đẹp thấp thoáng ta phải đuổi theo. Quá trình đuổi tìm chữ là quá trình lấn mở ranh giới nghĩa. Và quá trình làm thơ là quá trình phát nghĩa cho chữ -cơi nới chữ hẹp cũ, sáng lập chữ mới, tân trang chữ ọp ẹp, lắp gá chữ với nhau- và ở đây có “anh phu chữ”. Song khốn nỗi cái nghĩa nhiều khi nhà thơ nghĩ mình phát hiện lại trượt qua mắt người đọc. Mới với anh nhưng mòn xác với người, chả còn gì để người ta hiểu ở nó nữa. Mới thật, nhưng người ta chưa -hay không thể hiểu.

“Không biết có ai khóc Tố Như ba trăm năm sau không?”

Bóng chữ có những bài khó hiểu. Nhưng có nên vì thế mà kết luận Lê Đạt chỉ chữ, vô nghĩa cho nên ú ớ, “buồn cười”không?

Biết bao ngang trái diễn quanh cái sự hiểu! Giá gì chữthế nào, nghĩa cứ thế đuồn đuỗn hiện ra nhỉ. Huy Cận nói trong một tạp chí (KTNN?) rằng khi bé nghe đọc: Đề huề lưng túi gió trăng, Sau lưng theo một vài thằng con con, tuy không hiểu mô tê mà rất thích. Một người khác chuyện trò với thà cũ, bạn học cũ cũng nói thuở nhỏ nghe đọc: bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao, thích lắm mặc dù chẳng hiểu là gì.

Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương...

Khó hiểu, phải liệt vào sấm ký để giải nghĩa. Nhà thơ càng lớn, càng cần lắm các nhà chú giải học. Pushkin, Shakespeare. Và tự điển truyện Kiều. (Nào đã yên cho! Vẫn còn tranh luận.) Tựu trung trên bãi chiến trường: hiểu. Hiểu hay không hiểu. Hiểu như thế nào...

Cũng bởi kiếp người có tư duy, có hiểu, mới nên tội hiểu hay không hiểu.
Tại sao không hiểu hai câu thơ mà Huy Cận vẫn thích? Ôi, cái ma thuật thơ! Nghĩa mông lung của nó nhiều khi cứ mê người. Thế ra thơ không dệt bằng logic và duy lý. Trần Mạnh Hảo nói anh có thể tụt giầy vào thơ Lê Đạt nhưng dứt khoát không bớt chút nào cái đầu lô-gích và duy lý. Tiêu chuẩn vật lý e nó lấn sang thơ hơi nhiều. Như thế thì “mây mặc quần” được làm sao? “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” được thế nào? Nước Hoàng Hà đáo hải mà lại “thiên thượng lai?” Hà, hà...

Bạn bè hay bảo nhau: Cha X. nó tính toán như manager, thơ không hay. Thằng X. tính quá khó, có được thơ ra hồn. Không ai khuyên nhau tăng cường thơ lý trí, lô-gích, duy lý trong thơ lên. Biết cái nghiệp vất vả của tìm chữ (có nghĩa nữa) cho nên Lê Đạt nhận mình là phu chữ. Chữ khó kiếm khó gặp. (Chữ hay chứ không phải chữ từ điển, mở sách tra là thấy.) Như một kỳ duyên. Hay kỳ trận như anh nói. Trận lạ kiểu tao ngộ. Vì thế nó gọi là Bóng chữ. Ngang ý của câu ca cổ: “Tìm em như thể tìm chim. Chim bay biển Bắc, đi tìm biển đông.”

Thật ra chữ luôn luôn hữu hình. Nghĩa mới là bóng. Nó hay biến động, hay tràn ra ngoài hình chữ. Hiện tượng biển, tràn bờ đó -- nhà thơ, nhà văn chịu trách nhiệm tạo ra rất nhiều, trước hết là nhà thơ, để làm giàu ngôn ngữ đất nước. Rất cảm ơn!

Hiểu hay không hiểu. Hiểu như thế nào... Đó là tùy mỗi người. Xin hiểu một điều là hiểu nỗi viết khó để xây dựng nhau, quyết liệt thì được chứ chớ có nên ác chiến vì... không hiểu. Có lẽ vì “ác chiến”, Trần Mạnh Hảo đã viết Lê Đạt “vu cho” người anh em văn xuôi đi mỹ viện mông má để văn xuôi thành thơ. Tôi giật mình đọc lại Bóng chữ tìm không ra chỗ nào Lê Đạt viết như vậy. Lê Đạt chỉ mong thơ không là văn xuôi đi mỹ viện mông má, thế thôi. Phải nhận rằng trong rừng thơ bạt ngàn của ta hiện nay không ít những câu thơ không khác văn xuôi mấy. Có thể bác bỏ nhận định của Lê Đạt. Bác kịch liệt. Nhưng không nên tặng (*) cái chữ “vu” cho Lê Đạt.

Lê Đạt, như Trần Mạnh Hảo nói, là người tiên phong trong thơ. Mà không phải ai cũng vướng vào nghiệp chướng đó được đâu. Phải có điều kiện trước hết lòng mê nghề, rồi lòng dũng cảm, rồi tài ba, rồi những sản phẩm ít ra khả tín để thiên hạ bỏ công chờ đợi. Nôm na là có tướng. Tướng ở chữ.

Trần Mạnh Hảo nói muốn đổi mới phải dùng phép Di truyền học (nhờ nó, chôn rồi mà vẫn còn truyền giống được nó: ký gửi tinh dịch vào ngân hàng giống). Cấy men, gây sự cố. Lê Đạt chính là muốn như thế. Anh muốn cấy men chữ lạ, gây sự cố nghĩa vào thơ. Trời thương; bạn bè nâng đỡ may ra được vài chữ thì nhất.

Mimosa chiều khép cánh mi môi xa

Câu thơ mang sự cố nghĩa và gen chữ lạ này, tôi thấy tài hoa và hay. Trần Mạnh Hảo thì không. Anh chê Lê Đạt “chơi cái âm chữ nước ngoài thành âm Việt ngữ”. Bao giờ anh cho la-dơn, tu-líp nhập hộ khẩu Việt ngữ đây? Uýtki được rồi. Bia rồi. Đô la rồi!

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông
chúng bảo nhau rằng ấy ái uông

Cũng là một sự cố nghĩa, một gen chữ lạ. Cụ bà Xuân Hương mới đáo để tiên phong! Rồi “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” chơi chữ hoàng hôn ta với chữ hôn hoàng Hán cứ như bỡn mà uyên bác quá. Mà đã “chữ tài liền với chữ tai một vần” thì sao lại ngặt nghèo với xô lô hóa xe lô!
Lê Đạt còn dùng một mô lạ nữa. Đó là thêm vào cho chữ một chiều vô thức. Chứ không phải chỉ vô thức mà vất tiệt ý thức đi. (Dù cho chủ trương như thế thì ngay chủ trương đó đã là ý thức.) Oan này khiến phải thở dài.

Trần Mạnh Hảo viết vô thức là “âm bản, phiên bản, phó bản của ý thức”, “ý thức là con đường độc đạo dẫn tới vô thức”. Thôi, chẳng đem của cổ này ra bàn làm gì. Chỉ muốn nhắc là nếu vô thức và ý thức là các cặp phạm trù âm bản, dương bản, phiên bản, nguyên bản, phó bản, chính bản thì may quá, nhàn cho học thuật trước kia biết bao nhiêu. Đỡ tốn bao nhiêu giấy mực trên thế giới. Đánh giá cấu trúc luận, phân tâm học, thế nào là tùy Trần Mạnh Hảo. Nhưng nên nể mũi khi vuốt vào các mặt sách đó. Những đại tài danh Jacobson, Claude Levi-Strauss, Lacan, những người làm vẻ vang cho khoa học loài người đâu phải những dân tầm phào, láo ngáo. Hàn lâm viện Pháp trao mũ sừng lân, chế phục xanh ngắt lá cây thêu kim tuyến và ngù vàng bạc cùng thanh kiếm bạc cho viện sĩ Levi-Strauss nào có phải để đùa. Và Lacan, đứng đầu một trường phái phân tâm học từng gây chấn động năm châu một thời dài. Cống hiến của các bậc đã thành lớp trầm tích đắp dầy thêm khoa học, văn hóa chúng ta. Nhờ sách các vị có dạo Lê Đạt đã dịch ra tiền...

Chu Mạnh Trinh nói chúng ta là “một lũ nòi tình”. tình thơ. Tình người làm thơ. Cái tinh thần bè phái này đáng yêu quá. Có lẽ những người cùng phường cùng hội cũng nên giơ một bàn tay vẫy chào bạn thơ lúc lên đường đi vào một trận chữ mới hiểm nghèo.

Chú thích
* Tôi dùng chữ tặng không dùng chữ vu vì nó thuộc phạm vi đạo đức
và hình sự.

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC