Mất thơ ngây, đó là một trong những đặc tính của thơ đương thời. Điều này không có nghĩa là nhà thơ không còn thơ ngây hồn nhiên; chúng ta vẫn thấy, vẫn gặp hằng hà sa số nhà thơ đương thời cực kỳ ngây thơ. Nhưng mất thơ ngây nói đây chỉ có nghĩa rằng thơ không còn chỉ về một thế giới thơ cách lìa với đời thực, không còn chỉ về một phân cách giữa cái gọi là "ngôn ngữ thơ" và "ngôn ngữ không thơ" nữa, mà biên giới như chừng bị xóa nhòa đi, lấn đi, vượt hẳn cái lằn ranh "đời thực" với "đời thơ".
Tại sao?
Thử nhìn về một vài thế giới thơ của người đi trước. Như trường hợp Nguyễn Du, cụ kể lại cuộc đời nàng Kiều bằng một ngôn ngữ thơ cực kỳ lâm ly bi đát, chữ nghĩa đẹp tráng lệ khôn lường. Chúng ta thấy có một tác giả thành khẩn làm thơ và một tác phẩm thì được thành khẩn sáng tác.
Như trường hợp cuốn Lục Vân Tiên, người đọc cũng nhận diện ra có biên giới giữa người sáng tác và thành phẩm thơ được hình thành.
Hai trường hợp trên cho hình dung được hai tác giả muốn thuyết phục người đọc rằng có một thế giới được kể lại, và ngôn ngữ là một phương tiện truyền đạt. Trong tiến trình làm thơ, hai tác giả không muốn xen vào, nhảy vào, hay làm gián đoạn dòng chảy của cuộc đời thơ được diễn lại. Hai tác giả đều muốn giấu mặt. Điều muốn phô ra là hai truyện thơ được kể kia.
Nhưng các nhà thơ đương thời hầu hết đều muốn làm gián đoạn dòng thơ của chính họ, muốn cắt ngang câu họ đang viết bằng cách nào đó, và có khi nhắc nhở người đọc rằng điều đang đọc chỉ là chữ nghĩa thôi, không có truyện gì để kể và không có thế giới nào phân cách giữa người sáng tác và cái được sáng tác.
Nghĩa là gì? Hình như đơn giản là các nhà thơ đương thời không thành khẩn với điều đang kể mà chỉ thành khẩn với chính chữ và chữ thôi. Và vì chữ là ngôi nhà con người cư ngụ, là một tính thể của nhân loại, là cái cưu mang mọi chuyện trên đời.
Nghĩa là điều được kể không có gì để bận tâm, mà nhà thơ chỉ muốn nhắc nhở người đọc chỉ nên bận tâm với chính chữ thôi. Nghĩa là nhân vật không còn là nàng Kiều, chàng Kim Trọng, cô Nguyệt Nga, cậu Vân Tiên; mà nhân vật chính là chữ và chữ thôi.
Như vậy không có nghĩa là thơ cũ coi thường chữ. Ngay hiện thời cũng khó tìm được nhà thơ nào dụng chữ Việt điêu xảo như trong Chinh Phụ Ngâm.
Và cũng không có nghĩa là thơ mới coi thường tính truyện. Thí dụ như một câu đôi khi bị coi như bí hiểm của Khế Iêm, từ thuở tuổi tác như đồng nát, vẫn thực sự nói lên được cuộc đời của chàng tuổi trẻ một hôm xách xe đạp hành nghề mua đồng hồ cũ, ve chai, đồng nát để mưu sinh. Nhưng khác biệt lớn là nhà thơ đương thời thường khi thì hiên ngang xen vào chính thơ mình để gây rối. Thí dụ cách dùng các dấu chấm câu (phẩy, chấm, chấm phẩy, gạch chéo...) của nhà thơ Du Tử Lê. Anh không còn tôn trọng chính điều anh kể, mà anh đánh thức người đọc ngay ở cách ngắt câu, cách gián đoạn ngôn ngữ bất ngờ, và trong trường hợp này thì chính chữ và dấu tự động nhảy lên để trở thành nhân vật.
Điều vừa nói cũng đúng cho thơ Hoa Kỳ. Cụ thể như bài "Howl" của Allen Ginsberg từ cuối thập niên 50 cũng mang những dấu hiệu trên, với câu:
with mother finally ******, anh the last...
Chúng ta không thể hiểu sáu dấu hoa thị có nghĩa gì, hoặc có tượng trưng cho gì, hoặc ngay cả vô nghĩa. Tại sao không ba hay bốn hoa thị mà lại sáu. Không nắm bắt được nghĩa, và cũng không phát âm được, và hiển nhiên cũng không phải là vô ngôn chi hết, nhưng đặt thực sự trong toàn văn chúng vẫn làm chúng ta một thoáng khựng lại, và thấy một thế giới khác -- nơi đây nhân vật còn chính là chữ và chữ.
Nhìn lại các nhà thơ tiền chiến tài hoa của dân tộc chúng ta, như những Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, vân vân. Họ thành khẩn kể chuyện tình của họ, thành khẩn tặng thơ cho giai nhân, và thành khẩn trong chính tài hoa gieo vần dụng chữ của họ. Nhưng họ không bao giờ nhảy vào gây rối với chính dòng thơ của họ.
Họ không bao giờ xen vào, ngắt đoạn thế giới mơ mộng của người đọc.
Thế giới của họ tuyệt diệu và ngây thơ.
Các nhà thơ đương thời không thành khẩn như vậy. Không có nghĩa gì khác hơn là chính họ, họ đã tự xóa tất cả các lằn ranh giữa điều được kể, người kể, người đọc -- Họ không ru người đọc vào thế giới khác nữa, mà họ đánh thức người đọc, và gây sự với người đọc, và thò hẳn đầu vào để chú giải ở một nơi nào đó. Như để nói, tỉnh đi, đừng cảm động, đây chỉ là chữ thôi.
Lấy thí dụ như hai câu của Nguyễn Du:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời
Chúng ta, người đọc, thấy có chàng thiết tha dặn dò nàng trước khi chia tay, thành khẩn cảm động như biết đâu giây phút này như dường là vĩnh biệt. Chúng ta cũng không thấy có chân dung tác giả phảng phất trong này. Tác giả như giấu mặt đi, để người đọc dễ sụt sùi với mối tình đẫm lệ ly kỳ.
Nhưng thử viết lại cách khác, một cách cực kỳ cực đoan, thí dụ như sau:
gìn VÀng giữ nGọc ChO hay
cho đànH lòng KẺ chân; mây cuốI trời
Câu thơ mất hẳn sức thiết tha, cảm động. Nhưng nơi đây nhân vật chàng dặn dò nhân vật nàng như dường bị hư vô hóa, và để cho nhân vật chữ và chữ hiện lên. Tác giả thò hẳn đầu vào giữa những chữ như đánh thức người đọc, và cả gây rối nữa.
Dĩ nhiên đó là gây rối cách cực đoan, và do vậy nên không hay, không làm điển hình được. Nhưng trong các nhà thơ đương thời chúng ta vẫn rải rác, thoảng khi bắt gặp thái độ này. Như dường giễu cợt tất cả những cái gì "cảm động" của thế giới thơ. Thực sự, đó là xóa hẳn lằn biên giữa thực và siêu thực.
Chúng ta có thể gặp cách "đánh thức người đọc" nơi một vài dòng thơ của Đỗ Kh., và thông minh hơn thí dụ cực đoan trên:
Hỡi những em hàng quán
(Mấy ăn mày làm ơn đi chỗ khác
Trở về đoạn đầu - các câu, bốn, năm, sáu - cho khuất mắt)
Bài "Trong Túi Việt Kiều Cái Gì Tôi Cũng Có."
Nơi trích thơ này, người đọc được nhà thơ yêu cầu trở về đoạn thơ đầu và đọc các câu thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Thế giới được kể trở thành ngay thế giới đang kể. Tác giả thò hẳn đầu vào, chường mặt ra.
Mở một ngoặc nhỏ ở đây.
Nơi một cực khác của thi ca, nhiều nhà thơ Việt vẫn đang sử dụng, các tác giả lại phối trí chữ mình thành một hình họa. Phê bình Hoa Kỳ gọi đây là thơ cụ thể (concrete poetry).
Như một câu thơ viết về chiếc lá rơi, hay cánh chim bay lượn thì sắp xếp hoặc rải chữ ra cho nghiêng ngả, cho có hình dạng lá rơi, chim lượn. Lối thơ này mượn nhiều sức mạnh của hội họa quá, và làm chữ mất tính nhân vật. Đây cũng là một cực đoan và không còn được ưa chuộng bao nhiêu. Thêm nữa rất cực nhọc cho nhà báo khi trình bày. Nhà thơ thường vẫn nên từ bi với người sắp chữ kẻ trình bày.
Đóng ngoặc.
Tại sao nhiều nhà thơ đương thời lại muốn xóa lằn ranh giữa thế giới thực và thế giới ảo, một thế giới do thơ tạo nên? Có lẽ chính vì thế giới chúng ta đang sống hôm nay đã tự thân mang quá nhiều tính huyền ảo, như mộng, vượt xa hẳn sức tưởng tượng của con người. Không cần tưởng tượng nữa, đó là một phương tiện của thơ đương thời.
Mọi chuyện trên thế giới này thực sự đã vượt xa trí tưởng tượng của con người. Và trong cách thế hiện thân, con người xã hội này phản ứng bằng cách không cần tưởng tượng nữa, mà chỉ cần luôn luôn tỉnh thức, để thấy, để nhận biết, để gọi tên được thế giới trước mặt mình. Điều này đã xảy ra với văn chương Hoa Kỳ đầu thập niên 70.
Trong bài giới thiệu cuốn Superfiction or The American Story Transformed (Siêu Truyện, Hay Là Tiểu Thuyết Hoa Kỳ Hóa Thể) ấn hành năm 1975, nhà phê bình Joe David Bellamy cho là mọi chuyện ở nước Mỹ đã trở nên siêu thực, bầu khí khải huyền, cuộc chiến Việt Nam, các vụ ám sát, nền văn hóa cổ võ ma túy đã tăng cường cái cảm thức về sự mất mát một thực tại được chia sẻ. Bellamy đặt câu hỏi, "Nếu thực tại trở nên siêu thực, tại sao tiểu thuyết phải tả thực?"
Câu hỏi trên càng quyết liệt hơn cho thập niên 90 của chúng ta. Thế giới thực-ảo của đa truyền thông điện toán ra đời. Người đọc tham dự vào chính tiểu thuyết điện toán trong các đĩa CD-ROM, và tự chọn các hành trình cho tiểu thuyết. Mọi trí tưởng tượng đều thua kém cuộc đời thực chung quanh chúng ta.
Nếu trở ngược vào đất nước Việt Nam chúng ta. Mọi chuyện xảy ra cũng gay cấn khó hiểu, như dường không thực. Một cuộc nội chiến nhiều thập niên, hàng loạt thanh niên được quyến rũ lao vào hy sinh, hàng triệu gia đình ly tán, nhà tù dựng khắp nơi, người nghèo càng nghèo và người giàu càng giàu thêm. Mọi chuyện xảy ra ngoài sức tưởng tượng, như mơ, như xi nê, như không thực, như tiểu thuyết phương Tây cuối thế kỷ 19. Thơ Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu hiển nhiên không thể được người đời sau lặp lại. Nhưng chính thơ Xuân Diệu và Vũ Hoàng Chương cũng không còn có chỗ trong một thế giới "như dường không thực" này.
Khi đọc thơ các thế hệ trước, chúng ta như được bịt mắt để mơ vào dòng thơ. Nhưng khi không còn bị bịt mắt, và mọi chuyện trước mắt đều khó hiểu, như dường không thực, như dường phi thực, như dường siêu thực, thì thơ trở thành là ngôn ngữ chính của thế giới này. Là chữ không còn là phương tiện chuyên chở chúng ta vào thế giới bên kia, thế giới "nàng Kiều" hay thế giới "Tố của Hoàng" nữa. Là chữ, nơi cư trú và hiện thân của chúng ta, cũng trở thành nhân vật, và mang chức năng đánh thức con người, dù là để cùng ngẩn ngơ không hiểu chi thêm về thế giới chúng ta đang sống.
Chữ không còn để chuyên chở người đọc vào thế giới nào khác nữa, mà chỉ thẳng ngay vào thế giới đương hiện. Đau khổ và hạnh phúc không phải của thế giới bên kia, thế giới "được tạo nên" nữa, mà chính ngay ở "thế giới đương cư ngụ" của người viết và người đọc.
Last modified on 08/05/2007 – 8:00 AM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC