Nói cho cùng, mỗi bài thơ là một nỗ lực bày tỏ, một hướng tính (intentionalité), một tropiste (như hoa hướng dương), dù là những lời nói trống.
Không có nền nghệ thuật nào quay lưng với đời sống, mà ngồi trong hang nhìn bóng mình phản chiếu trên vách đá đinh ninh tưởng đó là thế giới thực. Thế giới thực là thế giới dẫy đầy hiện tượng. Hiện tượng biến thành đời sống, thuộc về đời sống khi tâm thức ban phát cho nó ý nghĩa. Tâm thức và thế giới hiện hữu song phương, phân duyên, lồng bóng nhau, phản hồi bất tận. Bị trói gô trong mê cung, biển giới hiện tượng, tâm thức chỉ còn biết thoát ra bằng sợi chỉ nghệ thuật. Tư thế xuất nhập vô ngại của nghệ thuật trước thế giới mà thi ca giữ vị trí đại biểu mặc nhiên coi thế giới là cõi lưu trú ở đó, tâm thức mài dũa, luyện đan (alchimie) bằng dụng cụ ngôn ngữ.
Nếu không gian được coi như nền phông không nền phông của sự hữu, thì thời gian là nền phông của không gian - đọa tính của không gian - Không gian đẩy lên bục gỗ (sân khấu cuộc đời) những hiện tượng, sau cơn mót đẻ của một mống niệm nguyên thủy, thi ca, một biến cố ngôn ngữ, xảy ra đáp ứng lời kêu gọi, thách thức (?) của hiện tượng (cả trong lẫn ngoài).
Là mặt phản diện của tâm thể, nói khác, dụng của tâm, ngôn ngữ cũng là hoạt trường của tâm thể. Khảo sát tâm thể đồng nghĩa với khảo sát ngôn ngữ, lóe lên ý đồ của cơ cấu luận. Bởi thường phân bố từng mảng thực tại, ngôn ngữ, bằng tròng mắt nhị nguyên, không chịu nhìn bằng con mắt ở giữa (huệ nhãn), ngôn ngữ biến thành bãi đấu kiếm (duo, dua-lisme) của trí phân biệt đối đãi, cơ cấu luận đã kinh qua nhiều vấn nạn nan giải và cũng chưa thể hiện công trình nào trọn vẹn, dẫn tới cảnh thất bại cuối cùng là cúi đầu đảnh lễ trước thế giới đầy ảo hóa của ngôn ngữ.
Thơ là một thứ sổ sách ghi chép cơn chấn động tâm não. Quan niệm một chủ thể nhận thức vượt lên ngã thường nghiệm (empirique), đẩy thành ngã siêu nghiệm (trans-cendant), tức cách tìm lối thoát, mở chiều kích mới cho ngã thì ngã siêu việt là diễn cách khác của vô ngã nhưng còn bị kẹt lại trong thời tính, là sai lầm nền tảng của hiện tượng luận nói riêng. Đồng hóa ngã với nhân cách, hóa ra, vô ngã là vô nhân cách, hủy bỏ nhân cách, là sai lầm nền tảng khác, quá trớn, vô phương cứu chữa, của triết nhãn Tây phương, nói chung.
Thực ra, khi chủ thể và đối tượng xóa bỏ biên cương thì vô ngã tuyệt nhiên không có nghĩa phủ nhận ngã, nhưng coi ngã không mang một thực tướng thường hằng bất biến, và đặt nó (chủ thể) làm một với vũ trụ (đối tượng). Chủ thể thơ là kẻ hành trì miên mật tính vô ngã, đi vào nội dung khách thể thơ trong chân trời khai mở tính thể để đưa thể tính về lại tính thể, như kẻ gọi đò.
Thêm nữa, đặt thi ca bộ phận không tách rời với triết lý (chủ trương Novalis) là phong tước cho thi ca phẩm trật cao cấp như tác năng nhận thức bất thối trước sự hữu, bỏ vào ngăn kéo những khuôn mòn lối cũ, đặt trí huệ trong tình trạng báo động thường trực trước sinh thế (Lebenwelt). Thi sĩ, cũng như triết nhân, đã từ lâu bị hất xuống từ thế giới trên mây, sống đời sống bằng thúc liễm hiện tượng. Hiện tượng là hình thái vận động của hình tượng. Mọi hiện tượng tâm lý, nhất nhất xảy ra trong mỗi cá thể đều ghi dấu ấn hình tượng, cách tàng ẩn. Thi ca cũng như triết lý, giải mã (decoding) hình tượng thành tâm ý. Tác động hai chiều hỗ tương giữa hình tượng và tâm ý là tác động hữu cơ, tất yếu, sine qua non. Đi vào trường tâm ý tức dẫm lên trường hình tượng, nói khác, hình tượng là xương cốt của tâm ý. Chia xẻ một bài thơ hay một bản văn triết lý là làm công việc chuyển hóa từ ý niệm trừu tượng thành hình tượng cụ thể (dĩ nhiên không đề cập tới kẻ mắc chứng vô cảm ngôn ngữ: a-lexithymia). Bẻ gãy gọng kềm nhị nguyên, thơ có khi dung tục đến sỗ sàng nhưng lại chứa đầy thanh khí, thơ có khi cụ thể lại bốc hơi thành trừu tượng hay ngược lại; sáng mà tối, tối mà sáng, hay nói theo thơ Thanh Tâm Tuyền, bóng tối chỉ là ánh sáng mun (trong Khởi Từ Bản Anh Hùng Ca, Sáng Tạo bộ cũ). Vả lại, dù tâm ý hay hình tượng, nền phông của chúng vẫn là sự hữu (existence) cái chi chi, cái có chứ không phải cái không. Nhiên tính mang tính căn cốt, đồng hóa thiên nhiên (nature) với bản chất, hiểu cách kỳ cùng, hiện tượng tâm lý cũng là hiện tượng thiên nhiên đầy tính vật thể, trên đó tương tác tâm và vật (Matière, vật chất, xuất phát từ nguyên ngữ La tinh Mater: mẹ).
Không tính về thiên nhiên không phải là ý niệm phủ nhận vật giới mà là ý niệm gân guốc, triệt để về tính giả hợp của vật thể. Berkeley, tị tổ chủ nghĩa duy tâm Anh, ngài Long Thọ, hoằng hóa triết lý tính không, gặp cọp, voi dữ cũng phải tháo chạy có cờ. Một tăng thân, dù nắm vững tâm, có thể cầm lòng không đậu trước một bức tranh đẹp hay một mỹ nữ. Hình tượng xuất lộ, biến đổi theo khía nhìn, như từng loại ánh sáng biến đổi theo thế xoay chiều lăng kính, nhưng không thể mất đi tính cách bá vương ngự trị của nó trên chiếc ngai tâm thức. Sống là sống với, với hình tượng, tạo hệ quả tất nhiên thời kỳ bái vật trong buổi thơ ấu của loài người, và sau này, phong trào chiêm bái hình tượng (iconoclasm) từng làm lung lay đế quốc Byzantine, thế kỷ 8, 9.
Hơn ai hết, thi sĩ là kẻ bị hút hồn trước hình tượng. Thi ca, nhân danh nghệ thuật. Thi sĩ, nhân danh đời sống, muốn lên tiếng trước những hình tượng. Thi sĩ cột mối tương hệ với thời đại, qua mối giao tình với hình tượng. Hình tượng một vực thẳm. Hình tượng một cảnh thảm sát. Một người đẹp với làn da trắng muốt. Một cuộc biệt ly có kẻ hầu cận. Một đường nét kỷ hà. Một nhát dao của mùi hương. Một trận chiến ngã ba giữa màu xanh, đỏ, lục... Cả một khối nặng hình tượng sẽ được đãi lọc qua cái phễu cảm xúc và trí tuệ. Có ba trạng huống xảy ra trong tâm thức hắn: Một, hắn cỡi thơ trên ngọn cảm xúc. Hai, hắn, như gà ấp trứng (incubation) bình tâm cho thơ đủ nhiệt lượng bung nở. Ba, hắn không làm gì cả, an nhiên tự tại cho cảm xúc hoán vị, đổi chiều, tích lũy thêm vốn liếng kinh nghiệm thơ. Ngoại trừ điểm ba không được lý tới, bởi thơ chưa hiện hữu và hắn là kẻ vắng mặt theo; điểm một, hắn như giong buồm trước cơn gió bão, thơ tác ra một thể hiện thất bại, sẽ bị nhận chìm, dù hắn đã sống thật, sống trọn vẹn; điểm hai, tính nghệ thuật hiện nguyên hình trong thơ, bằng cách nào đó thơ đã được chuốt lọc, mài nhẵn. Rút tỉa từ đó một nhận định:
Trương độ (extension) ngã sáng tác càng trải rộng ra trên mặt hình tượng (được tiết lộ bằng cảm xúc) thì mỹ tính tác phẩm càng bị teo tóp, thu hẹp. Và ngược lại, mỹ tính tác phẩm càng lớn thì ngã sáng tác càng nhỏ.
Sự khốn nạn về tri thức hay tri thức về sự khốn nạn tròng vào cổ ngôn ngữ (logos, verbe, nguyên ngôn) dạng thức vốn mang tính bản thể, lại chuyển hóa giai cấp, đẩy lùi ngôn ngữ thành cấu trúc kinh nghiệm. Ngôn ngữ, một ký hiệu qui ước nhằm truyền đạt với kẻ khác lại bị/được xử dụng như một công cụ nhằm truyền đạt với chính nó, ngôn ngữ truyền đạt ngôn ngữ, nó tạo thành lực lượng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tri thức mà đọc bản tuyên ngôn độc lập. Mỗi giai đoạn sống, thi sĩ luôn là kẻ tân tòng, ký hai thỏa hiệp. Một, với vận hành tâm sinh lý. Một, với ngôn ngữ. Nhưng với riêng ngôn ngữ, thỏa hiệp kia rất dễ bị phá vỡ. Bởi, ngôn ngữ sống cuộc sống riêng, thở hơi thở riêng; như cơn luân phong trấn giữ thế giới, hơi thở của ngôn ngữ tạo ra một ngữ hồn.
Ngữ hồn hành hoạt trên một quốc độ, lãnh thổ. Giả dụ, một ngày kia, trật tự của một thế giới xoay chuyển, nói khác, thế giới đặt trong một chỉnh thể mới, bậc thang giá trị đảo lộn, biên giới mỗi quốc gia sẽ được vẽ lại, địa danh đổi tên, những bài thơ gọi tên chúng sẽ được hiểu một cách khác biệt. Chẳng hạn Budapest thành Buddha = bậc giác ngộ, Pest = bệnh dịch hạch; Thiên An Môn thành Thiên = trời, An = yên ổn, Môn = cửa; Somalia, sommeil = giấc ngủ. Điện Biên Phủ, Điện = ngọn đèn điện, Biên = biên giới, Phủ = căn nhà lớn, Mirabeau, mirage = ảo ảnh, beau = đẹp (bài Sur le pont Mirabeau của Apollinaire); Brest, breast = khuôn ngực người nữ, và mưa trên Brest có thể hiểu, trận mưa nước miếng trên ngực người nữ (bài Il pleut sur Brest của J. Prévert) v.v... Hiểu thấm thía tinh thần hoài cổ mà khai phá của thời Phục Hưng Âu Châu (âge de renaissance), thi ca luôn vượt lên thời tính, nó là thứ thánh kinh của ngôn ngữ, một thứ hermetic cabala của Do Thái cổ, với ngữ nghĩa (semantics) linh động biến hóa, thậm chí, đối nghịch. Chưa kể, một bài thơ được đọc ở một vị trí không gian, thời gian riêng biệt sẽ dấy lên tính thẩm mỹ khác nhau, tựa như một lời thưa gửi thốt ra vào một hoàn cảnh thuận lợi, đúng hay không đúng thời lúc sẽ được đón nhận hay bị bác khước.
Một ngữ hồn nhóm tụ đào sâu một giếng nghĩa. Tiêu chuẩn của thẩm định văn học (nhất là lãnh vực thơ) nằm ở chỗ này. Tầm vóc thơ tùy vào lượng nghĩa. Thơ (tạm gọi thế), giếng càng múc mạch càng ứ ra. Thơ dở, mới vài lần, đã cạn kiệt. Sự từ chối giải thích (paraphrasing) thơ mình của hầu hết thi sĩ trên thế giới ngầm hiểu rằng thơ vượt khỏi quyền năng họ và giải thích thơ mình khác nào phá vỡ giọt máu trinh tiết của thơ. Họ phải nói lãng, quạt nghĩa cho hương bay, hay đành giữ im lặng, sự im lặng của bào thai, của rễ, của mạch nguồn, của hậu liêu, và của... thóc giống thi ca.
Giếng càng sâu, mạch càng đầy. Một mũi tên bắn tới vô lượng nghĩa. Sự trưởng thành của ẩn dụ hay của thơ là một bước chuyển từ như qua là, từ là đến không là (là ẩn dấu), từ có nghĩa đến vô nghĩa (non-sens), từ hình tượng đến vô hình tượng. Nền thi ca nói riêng và văn học thế giới nói chung đang sống trong bầu khí Kim Cang: Nghĩa tức vô nghĩa như thế mới gọi là có nghĩa; hình tượng tức vô hình tượng như thế mới gọi là hình tượng.
Trải qua những cuộc ra đi của từng thời đại, hắn là kẻ ở lại sau cùng để chăn dắt, nuôi lớn chữ nghĩa. Trải qua những đổ vỡ của từng tư tưởng, ý hệ, hắn là kẻ sống sót trên thơ của mình. Hắn thi triển và nhập làm một với ngôn ngữ. Ngay nỗi khổ đau khi đi qua thơ không còn là nỗi nữa mà trở thành một cảm thọ của thân xác với cuộc đời:
Đời sống càng khổ đau, nghệ thuật càng hoan lạc.
Thoát khỏi hình tượng, như tháo cũi, sổ lồng. Don Quixote, một nhân vật vốn mang ẩn ức xã hội, đã chạm hình muôn thuở mẫu người muốn đập vỡ hình tượng (cối xay gió). Thi sĩ muốn vất đôi nạng gỗ hình tượng và bước đi dõng dạc làm cuộc biệt tích ngắn hạn. Xóa hình tượng cũ, tạo khởi điểm cảm hứng sơ khai, sắp xếp trật tự thế giới bằng trật tự ngôn ngữ. Qua ngôn ngữ, một lâu đài giả hình được xây đắp: Tháo từng mảnh lâu đài thì toàn bộ ý niệm lâu đài sẽ sụp đổ. Dù nằm trong trục không, thời, dĩ nhiên, mỗi câu trong toàn khối cất lên một mạt thế luận (eschatologie).
Mỗi bước chân ngôn ngữ lần về tuyến trời tưởng tượng, chụm đầu vào nhất thể (unity). Không có thế đại đồng, hòa điệu nào rốt ráo bằng hướng tới chung của ngôn ngữ. Rắc thiên thu vào những giọt vô thời, dù ở trong một không gian bất ổn, thi sĩ vẫn yên vị ngay trên đôi cánh đập của loài đại điểu. Thi sĩ vẫn yên vị trên chiếc ván bắt giữa hai bán cầu não bộ, dưới đó những nhánh sông chảy về không bao giờ lúng túng đổ ra đại dương của trí bát nhã vỡ tiếng vô thanh kỳ diệu. Hắn đi luồn vào tất cả sự tướng, sắc tướng mà vẫn ung dung không hề bị vướng mắc.
Thơ đứng trong thời đại nhưng cũng toan tính bay vượt trên thời đại. Đôi cánh thơ thay thế đôi cánh gãy thiên thần (thiên thần, một sản phẩm của trí tưởng tượng manh nha từ thế kỷ 4). Phóng tới trước và không ngoái lại đàng sau để như chàng Orphée phải mất đi nàng Euridice vĩnh viễn.
Trường độ của tính thời đại trong thơ càng lớn, đường bay của thơ ca càng ngắn ngủn.
Vượt lên thời đại tức vượt lên tri kiến. Vượt lên tri kiến tức đoạn trừ tri kiến. Đoạn trừ tri kiến tức phục họat tri kiến. Đổ hết rượu cũ và rót vào rượu mới. Sống tràn đầy trong từng khắc hiện tại tưởng như ngày mai sẽ chết. Hiện tại, đối với thi sĩ biến thành thứ hiện tại đa thì, đánh bạt thể quá khứ đa thì của một số nền ngữ học hiện đại.
Sống hiện tại là sống cơn lên đồng tận cùng của hơi thở mà đi đứng nằm ngồi trên đường và làm cuộc chuyển y tâm thứ như một đạo sĩ.
Nói rõ ra, dân tộc đang nhu cầu hướng tới một nền nghệ thuật bát nhã (prajna: hơi thở, trí tuệ) mà buổi đầu, thi ca phải là mũi xung kích. Không có đỉnh thi ca (dù là Nguyễn Du) hay một nền triết lý nào được dựng sẵn (dù là Hégel, kẻ tự phụ) mà không thể vượt qua. Bởi lẽ, thi ca không phải là ngọn núi để những kẻ làm thơ chỉ biết leo tới đó và cắm một ngọn cờ trên đỉnh, nếu đúng thế, thì nó lại càng không phải là ngọn núi được đo bằng ni thước: Ngọn núi Tu Di chỉ là biểu trưng chót vót một tâm thức đại ngộ.
Nền nghệ thuật mang tính làng mạc của tộc Việt đến nay, đã ngủ dài ngàn năm bằng đôi mắt Trung cổ ngoan cố, thủ cựu đang/phải được bừng lên, đô thị hóa. Thi ca hôm nay như ngọn lửa có công năng nhiều mặt: tàn phá, tạo hình, thắp sáng, lay tỉnh... Lay tỉnh dân tộc trước hết là khơi dậy ý thức mới, sinh phong mới, đẩy nọa tính chậm lụt chuyển mạnh, và xô cánh cửa thi ca từ lâu đã khóa chặt tiếng cầu cứu bên trong.
Last modified on 08/05/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC