Thơ-bây-giờ đã đi hết chiều ngang của nó. Như một người đã đi giáp vòng trái đất, ngơ ngẩn trở lại điểm khởi hành lúc đầu, thấy không còn cách nào khác ngoài “đốt tâm tư mở một chiều”, thám hiểm chiều dọc của thơ, đi-về giữa ngổn-ngang-lối-ngõ, tình cảm, sinh học, và vô thức, làm xao động các không gian. Một cuộc đi-về theo chiều phản phục hồi tác (feedback loop), cái đi trước chuyên chở dự kiện cho chuyến đi sau, cuộc đi sau ghi nhận hồi tác (feedback) từ cuộc lữ thứ trước, tất cả dung nhiếp trong một tiến-trình-tự=thành. Ở bề mặt, rất có thể “đi với về cùng một nghĩa như nhau”, nhưng ở đát tầng, từng đợt sóng ngầm xô đẩy nhau đập vào bờ bãi của vô thức, đẩy con nước-cảm-nhận len lỏi vào những nơi sâu tối của dồn nén.
Trong bức tranh toàn cảnh của một bài thơ, kinh nghiệm của nhà thơ không chỉ là một nét đứng chen chúc với những nét như thời sự, chính trị, chũ nghĩa, ý thức; mà nó là nét đậm và nổi cộm đến độ tất cả những nét khác chỉ hiện diện ở phông bài thơ, và đôi lúc mơ hồ, bảng lảng tới mức cho dù có cất tất cả những nét-ở-phông đó đi, bài thơ vẫn gieo mầm hạt nghĩa qua cấu trúc thơ.
nheo mắt cáo
buộc khi là khác. Thổi
bùa làm mơ hồ mối mòng. Cắn
hắt nước vào mặt
răng nhằn ra cái gốc
gác
chân lên đêm
đã sang canh từ bao đời
trước sau rồi cũng đành ngậm
chặt ngang trái
vả lại
hãm bớt kẻo thì phiền rơi vào nơi đằng dai mãi giữa lam và lũ
(Khế Iêm, Vả Lại)
Sự vô tình của các cụm từ “khi là khác”, “lam và lũ”, để chúng ở đầu và cuối bài thơ; cái thiếu-dứt-khoát của sự cáo... buộc do việc đem từ buộc đặt ở đầu câu sau, vắt ngược từ cáo gán cho mắt và qua đó làm mất tính cáo buộc nguyên thủy và đẩy ý định ban đầu vào khoảng trù trừ không-điểm-tựa; tất cả, một mặt nhuốm bài thơ trong màn sương vô định, mở rộng các chiều kích ngôn từ, đẩy người đọc rơi hụt hẫng từ không gian sự cố xuống không gian tưởng tượng, qua đó khai mở và khoắng sâu chiều dọc thơ; mặt khác phản ánh cái bất định do sự mất thăng bằng kiểu Newton trong giai đoạn chiến tranh lạnh. Đã rõ tính chất thời sự này chỉ là nét chấm phá mờ nhạt ở phông bài thơ; và dù không có nó, cuộc lữ thứ thám hiểm chiều dọc của thơ theo hướng-tự-thành vẫn nổi bật, vẫn trụ vững trong không gian thơ Khế Iêm.
Cuộc thám hiểm đi sâu xuống mãi. Cũng vẫn khởi đầu từ không gian sự cố với tất cả những vỡ vụn, những hoài nghi theo sau một trật tự cũ đã đổ vỡ, hơi thơ trùng xuống không gian tưởng tượng, mượn lực của hành-động-ảo “hắt nước” để che đôi hành-động-tưởng-tượng “cắn răng”, và qua đó mở hướng cho không gian vô thức, đưa hơi thơ đi xuống nữa để bắt gặp lại những gì tưởng đã mãi mãi chôn sâu ở cõi quên lãng. Chính nơi tăm tối đó, nó chụp vội những mảng của vô thức bằng một mạch ba câu thơ nối liền nhau, để rồi ngoi trở lại không gian sự cố hoang mang lúc đầu với nhịp điệu khoan thai của câu cuối, câu thơ dài nhất. Giữa kinh nghiệm của tác giả và bài thơ không hề có tấm chắn nào, cho dù đó là ý hệ, triết lý hay thời sự. Chính sự trống vắng các tấm chắn trên giúp người đọc tiếp cận gần hơn và nhanh hơn với tiến trình tìm lại hoặc khám phá mà nhà thơ đã trải qua.
Ở đây, bài thơ là sự khải thị, là tai-mắt-da-thịt-tay-chân mà qua đó ta cảm nhận được sự biểu hiện của tính thể nhà thơ qua các dạng của thức cho dù đó là vô thức, tiềm thức hay ý thức. Du Tử Lê vượt thoát ra khỏi sự cục bộ cả về không gian lẫn thời gian vả đẩy sự khải thị này lên đến tận cùng qua “Trường Khúc Mẹ Về Biển Đông”. Nhịp thơ đều, về một đoàn người đưa đám theo sau linh cửu tiến về mộ phần; thỉnh thoảng nhói lên tiếng nấc bộc phá từ cái không-kềm-giữ-được-nữa của cảm xúc ẩn ức. Các đoạn thơ đều chữ đặt ở những nơi ngẫu nhiên của bài thơ -có tác dụng làm khựng lại- là những tiếng nấc của tình cảm bị “knock out”, và cũng bất chợt đẩy người đọc từ không gian hiện thực xuống không gian tình cảm để rồi trả ngược người đọc trở lại với không gian hiện thực theo với nhịp kể nối liền sau đó. Sự khám phá chiều dọc của thơ đã được thực hiện hai chiều với nhịp đi về của tình cảm bị trùng xuống dưới sức nặng của xúc động.
...
những đứa con như đất thó
như tôi
còn sống mãi
sống nhăn răng
răng không trắng ưởn
răng sâu ăn. Rắng cái rụng cái còn
nhưng vẫn là “hòn vàng thì mất. Hòn đất thì ở”
hòn đất. Phải. Chúng tôi chỉ là những hòn đất
mỗi sớm mai thức dậy
thấy đời không đổi khác
thịt mỗi ngày mỗi ôi
xương mỗi ngày mỗi mục
trí cùn với da nhăn
ra vào như xác rữa
từng ngày tôi đi qua
những cảnh đời đã khép
dạt trôi một góc trời
biết đâu là cố quốc!
Khi tôi tới, những bông bird Flower ngửa mặt nở ối
buổi trưa đu võng trên những tàng cây giống cây bồ đề
...
(Du Tử Lê, những bông bird flower nắm đất và sự trở lại, khúc thứ ba trong Trường Thi Mẹ Về Biển Đông)
Với Lê Đạt, cuộc thám hiểm chiều dọc của thơ là một chuyến đi bùng bốc khởi đầu từ “điểm lạ” (singularity của Hawking), điểm qui chiếu gốc của thời gian, nơi đánh dấu cơn đại-bùng-nổ (big bang) khai mở vũ trụ và thời gian:
Chừng ông cũng đương chim hát
một ngày rất dĩ vãng
Ngựa lên mấy,
mà nghìn tuổi cây
và một tiểu sử người
(Lê Đạt, Ông Phó Cả Ngựa..., trong Bóng Chữ)
Và sự triển nở của vũ trụ, và sự xuất hiện của chủng loại người với gánh nặng quá khứ vô thức mà dấu ấn còn ghi lại là những nét mờ nhạt ở tiềm thức với:
Thì long
Thì ly
Thì sư
Thì hươu
Thì anh cán bộ bảo tàng một hai
Thời ma-mút ngựa xếp hạng
văn minh Xahara
Nghé nghiêng cô trẻ tay bỗng vỗ
Giống cụ Phó
(Lê Đạt, Ông Phó Cả Ngựa...)
Trong dòng khai triển bùng nổ đó, trải qua “nghìn tuổi cây”, mơ hồ đâu đó là kinh nghiệm bắt-gặp-lại-được của nhà thơ, ở lúc “cho tôi đi lại từ đầu”, từ điểm hồng nguyên, từ lúc còn nằm trong nôi, mở mắt lớn nhìn “chú đồng nghiêm”, tai còn nghe văng vẳng nhịp “xúc xắc xúc xẻ”, “chi chi chành chành” ngày nào qua sự nhảy múa của những con chữ:
Lũ vật lớn bốc
Một đàn lốc nhốc
sơn bốn chân thò mộc
guốc khua lốc cốc
lộc ngộc
(Lê Đạt, Ông Phó Cả Ngựa...)
Có cái gì kích thích giác quan một cách lạ lùng ở các vần trace gọn, nặng và sắc lẻm Lê Đạt buông ở cuối câu. Ta có cảm giác đang nhai con chữ, đang gậm nhấm tiến trình khám phá của nhà thơ, đang ngấu nghiến cái ảo tưởng “thông đồng trời” để truy nguyên về điểm khởi đầu của vũ trụ, đang để cho chân tự nhiên nhảy múa theo điệu “rap”, cái điệu nhanh ham hố của một người đã khai quật được khá nhiều mảng của vô thức, dáng tinh nghịch, mặt hồn nhiên, hai tay vội vội vàng vàng vơ chúng vào nhưng vẫn không cách gì ngăn chúng vượt khỏi tầm tay.
Thơ-bây-giờ đã đi hết chiều ngang của nó. Xuôi theo chiều dọc của thơ, ở nơi bất ngờ nhất -theo thuật ngữ của Donald hall- là một căn phòng trống. Căn phòng đã có, ở đó, từ lâu. Do một 'ngẫu nhĩ trong giờ ngẫu nhiên”, ta khám phá ta nó. Không có gì trong đó cả. Bốn mặt vách trống trơn Không một bí quyết nghệ thuật nào vất vưởng trong đó. Nhưng ở đó ta cảm nhận được những gì không-nói-được (the unsayable said). Phi-phi-ngôn cũng được. Nhưng nếu đến được căn phòng đó trong thơ, là đủ rồi.
Last modified on 07/11/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC