Cuối tháng mười một vào lúc dân cư Tân Cát Lợi sắm sửa ăn mừng lễ Thanksgiving*, cây cối cũng rũ bỏ mớ lá còn sót của mùa thu đan lâm chung đe đi vào tiết đông đằng đẳng. So với mùa hè xanh tốt rậm rạp cách đó chưa đầy hai tháng, sự tương phản đầy kịch tính ấy không khỏi đập vào cảm thức con người. Mối liên tưởng hai chiều về tuổi trẻ/tuổi già, sự sống/sự chết, cái còn/cái mất được gợi nhớ từng ngày, nhất là vào những buổi tinh sương ảm đạm với không gian mù xám và lũ cây chết sững đâm chĩa nhánh cành khắp các góc trời để van nài chút nắng. Cùng với mấy chiếc lá úa cuối mùa bị gió bức lìa cuống, cùng với sự lụi tàn của thiên nhiên và vẻ hắt hiu của thời tiết là cảnh chim chóc muông thú trốn chạy khỏi các công viên, đồng ruộng, núi rừng. Hoặc chúng thiên di về phương Nam, hoặc chúng chui sâu vào lòng đất. Những ngày tháng đó, con người đối diện một mình các mất mát với niềm nuối tiếc khó lòng tránh né.
Vào thời gian ấy bắt đầu trong tôi một điều gì khó tả, như một ám ảnh chưa có dáng hình, không hẳn vui không hẳn buồn... Với kinh nghiệm nhiều năm sáng tác tôi hiểu rằng tiềm thức mình đang hoài thai một bài thơ. Tôi chịu khó quan sát cây cối nhiều hơn những lúc thư nhàn dạo rong hoặc những khi ngừng xe đợi đèn xanh bật cháy, và tôi khám phá một điều: họa hoằn mới có cái tổ chim giữa trăm nghìn thân cây rải rác khắp Boston. Thông thường cái cây có diễm phúc được chim chọn làm tổ ấy là một gốc cao to, rậm rạp cành lá, nằm vào nơi khuất ở góc sân hoặc eo đường vắng. Chim cũng có minh triết của chúng, tôi nghĩ bụng -- kinh nghiệm chọn cây xây tổ của chim chóc chắc chắn đã hình thành trước các nền văn minh của giống người trên quả đất. Lễ tạ ơn, đánh dấu năm đầu được mùa trên đất mới của di dân Hoa Kỳ ở Plymouth, Massachussets; về sau thành lễ hội truyền thống của lịch sử nước Mỹ. Rồi một buổi chiều, ngừng xe tắt máy giữa cái bãi đậu vắng trước giờ vào lớp hơn mười phút, tôi ngồi thư giãn ngó mông khoảng trời chung quanh. Tia nắng bâng quơ chợt chạm phải cái tổ hiếm hoi quen thuộc trên một chạc cây xa. Lúc ấy nắng ngày sắp tắt, không gian nhợt nhạt vô hồn làm nền cho thân cây với tổ chim hoang vắng kia in đậm vào tâm cảnh và cái tứ thơ tôi không mong đợi, tìm kiếm đã lóe lên gây chấn động khắp người. Sự liên tưởng bất ngờ đã thành hình, nối kết tổ chim với thân cây được chọn kia với chính bản thân tôi và cuộc sống tình cảm trước đây cũng như hiện giờ. Tôi vừa hiểu rằng trong quá khứ, như chim đã chọn cây, tình yêu và hạnh phúc đã chọn tôi, cái ân huệ hiếm hoi chỉ đến một lần trong đời mà không phải ai cũng được số mệnh ban tặng. Bây giờ mùa đông ngoài kia chính là cuộc đời tôi, trên gốc hạnh phúc cành nhánh đã trụi khô trong tổ ấm ngày xưa chỉ còn trái tim băng giá. Cánh chim tình yêu đã biệt tăm; biết còn chăng mùa tái ngộ?
Cảm hứng thi ca này không mới. Đông Tây kim cổ, văn thơ đã nói bất tận về mùa hè và mùa đông của đời người, liên hệ cùng hạnh phúc và biệt ly mất mát. Thí dụ Shakespeare trong bài Sonnet số 73 lừng danh đã khai thác cái tứ này__________
That time of year thou mayst in me behold
When yellow leaves, or none, or few, do hang
Upon those boughs which shake against the cold,
Bare ruined chords where late the sweet birds sang
...
Thế nhưng sáng tạo lúc nào cũng là sự bắt đầu trở lại óc tim từng người nghệ sĩ. Bí mật của sự tinh khôi trong nghệ thuật là ở đó. Đây cũng là căn nguyên của mối tương quan mật thiết giữa cái riêng cái chung trong vũ trụ các tác phẩm văn nghệ. Một khi người nghệ sĩ nhập thần, người đó vừa là một cá thể cực cùng đơn độc, vừa là hiện thân của quyền năng sáng tạo siêu nhiên vô ngã.
Tôi muốn trình bày một kinh nghiệm riêng tư, một thứ tâm sự ngoài lề giữa bọn viết văn làm thơ với nhau, trong ngành tâm lý sáng tạo cũng như trong giới nghiên cứu phê bình thi ca phương Tây, những công trình mổ xẻ, đào sâu bí mật nghệ thuật hoặc nguồn gốc tác phẩm ngày càng xuất hiện nhiều. Dù vậy, đóng góp với người đọc có quan tâm một cảm nghiệm cá nhân về quá trình sáng tác vẫn thú vị hơn là bỏ thời giờ dịch hay điểm một khảo cứu nước ngoài, dù là việc làm ấy không phải là một công việc vô bổ.
Thơ từ đâu đến? Nhiều thi sĩ danh tiếng đã viết đã giảng, đã tranh luận về vấn đề này và đưa ra không ít giải thích. Tức cảnh tức sự, bất bình tắc minh, đồng thanh tương ứng, ngôn chí, tải đạo... Lẽ nào cũng đúng, và trong thực tế sáng tác các lý do thường hòa lẫn. Muốn minh họa điều vừa nêu chỉ cần nhắc tới Truyện Kiều hoặc một số bài thơ Đường mà nhà thơ nào cũng biết. Tuy nhiên trường hợp cụ thể của từng bài thơ lại khá đặc thù và chỉ có lời tâm sự của chính tác giả mới thật sự giúp ích được cho câu hỏi về sáng tạo.
Để bớt dài dòng, xin trở lại vấn đề chào đời của mấy câu thơ mà các bạn sẽ đọc lát nữa. Đầu tiên đó là cảm hứng mông lung, hư hư thực thực trong tiềm thức như một điện trường còn chờ tia chớp của liên tưởng để hoạt khởi. Tặng phẩm đó đã đến bất ngờ với tôi vào buổi chiều cuối thu ở Roslindale in bóng rặng cây với tổ chim hiu quạnh. Cảm hứng đã hóa thành ý thơ từ đó cảm xúc với suy tư bắt đầu đan dệt nên các tứ rõ dạng. Những dạng phác thảo trước khi được ngòi bút ghi chép lên mặt giấy bắt đầu đùa nghịch tranh cãi trong óc não. Tiến trình biện chứng vừa nhập thần vừa tỉnh táo của sáng tạo khởi sự ráp xương đắp thịt cho tác phẩm. Ở đây xuất xứ bài thơ không còn phải bàn cãi. Khái niệm Phaneropoeia của Ezra Pound áp dụng ở đây rất thích hợp. Mẹ đẻ bài thơ chính là trí tưởng tượng hình, cái mà Coleridge mệnh danh là trí tưởng cấp hai (second imagination). Nói vậy không có nghĩa phủ nhận khả năng gợi hứng của melopoeia như Valéry đã tiết lộ về bài thơ kiệt tác Le Cimetière Marin hình thành trong đầu thi hào từ một tiết nhịp vô hình ám ảnh, cũng giống Nietzsche những ngày thai nghén Also Spracht Zarathustra.
Tôi lại sắp lạc đề. Lục ngăn tủ tìm cây viết và tờ giấy, thắp lean ngọn đèn thi sĩ, nháy mắt với các anh linh tiền bối rồi bắt đầu chép lại sạch từ các phác thảo đầy cạo sửa bài vần điệu dưới đây:
Tình Đông
trơ trụi, guộc gầy
cây già đứng lặng
tổ chim trên chạc
gió tạt mưa lay
cuộc tình tàn phai
úa khô cành nhánh
biệt tăm đôi cánh
giấc mộng hè xanh
trống vắng hồn không
trắng trời tuyết lạnh
trái tim cô quạnh
rét buốt rơi đầy
từng khắc từng giây
mùa đông kéo dài
cơn đau tê cóng
len khắp hình hài
cái lạnh dằng dai
giết mòn mạch sống
đất trời phủ kín
màu của quan tài
bao giờ trở lại
nắng ấm vòng tay
cho nụ hôn say
làm tan băng giá?
Cũng tàm tạm, hơi lắc lư ê a một tí. Hay là đổi gam, solo thử một đoản khúc vĩ cầm. Đây, kính thưa quí vị:
Còn lại cho trái tim
phơi giữa chạc đông
tổ chim trống không
giá lạnh ghé thăm
tặng quà nắm tuyết
Cô đọng hơn, độ run thầm kín, lời ít ý nhiều, thật chẳng hổ danh tứ tuyệt. Cái tên Còn lại cho trái tim soi chiếu tứ thơ ngụ ý các liên tưởng mà đọc giả phải suy ngẫm thêm để lĩnh hội trọn vẹn nội dung: sự hiu quạnh của tâm tình sau những biệt ly mất mát. (Để nghĩ ra tên bài thơ, tôi đã phải tư duy mất hơn mười phút. Trước đó nó phải mang tạm những cái tên lôi thôi như Bây giờ trái tim; Trái tim, không phải hình tượng...)
Nếu bạn chưa buồn ngủ, tôi xin bốc phét tiếp tục. Thơ văn cũng giống như nhậu nhẹt, đang hứng thì khó dừng. Đọc lại mấy câu tứ tuyệt vừa rồi tôi bỗng thêm không khí thoáng đạt của thơ tự do, thể thơ cho phép trí tưởng tung hoành bất cần khối lượng, vật liệu nhiều hoặc ít. Tại sao lại từ chối thể nghiệm ngôn từ và hình tượng, phá bỏ hình thức niêm vần, chắp cánh mới cho ý thơ. Bắt đầu với hai hình tượng chính là thân cây trụi lá và tổ chim trống, tôi viết liền hai câu thoải mái như thở như nói, không cần phách nhịp trống đàn,
thay tiếng ríu rít hót ca
là tổ trống
thế lá xanh
là cành nhánh trụi trần
Hơi thở thẳng thắn một mạch gợi liền cái tứ cốt lõi, nhấn mạnh mối liên tưởng trực ngộ ở Roslindale:
thân cây kia
có khác chi
một kiếp người?
Xúc động ở đây đến điểm thắt, hơi thơ bị nén lại với câu hỏi ____ thật ra là một khẳng định được phép tu từ gián cách đi để gây ra trong tâm thức sự chờ đợi. Tôi đứng trước ngã ba, hoặc xoa dịu vuốt ve nỗi đau và niềm tiếc nuối như bài Tình Đông với đoạn kết lãng mạn trên kia, hoặc phóng thẳng tới sự thật, dù là sự thật phũ phàng. Đọc lại những chữ ngắn gọn mở đầu bài thơ, tôi hiểu rằng chỉ có một chọn lựa. Hơi thơ phát ra từ mấy câu ấy bộc trực và ít lời như sự thật. Kinh nghiệm bản thân và bài học từ các nhà thơ lớn đã dạy tôi rằng có những bài thơ không thể thỏa hiệp với sự rườm rà đa ngôn; có những câu thơ thù địch với sự yếu đuối, những câu thơ không cho phép nhà thơ chùn tay.
Mùa hè biệt dạng, mùa thu hiu hắt, tình yêu tuổi trẻ ra đi. Chỉ có đông giá và cái tổ chim bỏ hoang trên chạc cây trần trụi. Lúc này không phải trí tưởng nữa mà chính lôgíc nghệ thuật và lôgíc cuộc đời đồng thanh bật lên câu hỏi xé lòng _______
và giờ đây
đàn chim hạnh phúc
đang rã cánh tận đâu
trên biển lớn không bờ
hay giữa lòng sa mạc cháy
Dứt điểm một kinh nghiệm tử sinh được ngôn từ thăng hoa thành thơ ca, thành nghệ thuật. Bài thơ tự do gắn với cái tên khá tự nhiên Lời mùa đông được cất vào hộc tủ. Biết đâu, theo lời dặn của thi hào Horace, tám chín năm sau mang ra đọc lại vẫn còn chấp nhận được, và nếu đem đăng báo sẽ không làm các độc giả khó tính ngáp dài.
Mùa đông 1990-1994
Last modified on 07/11/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC