ĐẢO CHÁNH?

Nguyễn Hoàng Nam

 

 
 

 

 

 

 

Thơ, tự nó đã bao hàm tự do và mới.

Tự do nghĩa là cá nhân.

Mới nghĩa là hành trình của thi sĩ liên tục tự bỏ mình lại sau lưng.

Căn bản này tới nay vẫn còn khó hiểu đối với nhiều người. Là một dân tộc chậm tiến điển hình, người Việt Nam luôn cần một tập thể để nấp vào, và mọi thay đổi đều phải bằng mô thức quân phiệt cố hữu.  Văn chương nói chung và thơ nói riêng cũng bị nhét vào khuôn rập đó.

Mỗi khi mới xuất hiện một thi sĩ, một tạp chí, bộ đồ nghề rỉ sét lại được lôi ra để đo lường, định nghĩa, xếp loại, chia phe. Chưa đủ.  Còn đòi hỏi phủ nhận, lật đổ, tuyên ngôn, lập tân chính phủ.
Những thứ này chẳng dính dáng gì đến thơ. Nghĩa là chẳng có gì tự do và chẳng có gì mới cả. Trước hết phải biết như vậy nếu chúng ta thật sự muốn thoát khỏi cái đáy giếng, cái đầu óc ghetto. Phải biết như vậy trước khi chúng ta mở miệng nói hai chữ tự do với những người cầm bút trong nước.

"Tôi phủ nhận Sáng Tạo, thơ Đường v.v." là một câu dễ nói trước microphone hoặc sau vài chai bia. Nhưng nó vô nghĩa. Nó chẳng giải thích, chứng minh được gì ngoài nỗi ám ảnh và sự gián tiếp công nhận, cũng như bệnh si mê nhãn hiệu vĩ đại--sao không phủ nhận "Em chưa đái mà hồn anh đã ướt" chẳng hạn?

Hơn nữa, vị trí của những "Liên đêm mặt trời tìm thấy" hay "Hoàng Hạc Lâu" là trên kệ sách thư viện.  Khi cần tôi tới lục, ngày thường tôi để yên.

Khi nói về một "school of thoughts," chúng ta hoàn toàn ở trong phạm vi tư tưởng và lý luận. Nhưng hễ chúng ta nhắc đến "trường phái" thì nó gần như đồng nghĩa với "bè phái" hay "chính phủ văn học tự phong." Nghĩa là một tập đoàn lên gân cổ đồng ca tuyên ngôn và hiến pháp vào loa thiếc. Nghĩa là muốn lên phải có dấu đóng của chúng tôi. Và dĩ nhiên phải có tham nhũng, phải có cà phê hũ tiếu, khề khà thù tạc. Chưa lên sẽ thổi phồng, lu mờ sẽ đánh bóng.

Theo tập quán quân phiệt đệ tam quốc gia, trường phái cầm quyền bị một trường phái khác lật đổ, khai tử hoặc đưa về vườn một số tên tuổi, và tất cả trở lại từ đầu.

Sự tự mãn của trường phái và sự nô lệ vào đạo đức tập thể đã trói chân thế hệ trước. Ngay cả tư tưởng lãng mạn cũng không những chưa được thấu triệt, mà những mảnh vụn còn bị khử trùng. Hậu quả là cho đến giờ người Việt Nam vẫn nghĩ rằng thơ phải là trình độ trung học, những tĩnh từ hoa lệ, ý tưởng ngây thơ, và tránh né tình dục.

Nhưng biết như vậy không có nghĩa là tôi cũng sẽ lên gân cổ gào những tuyên ngôn và lại cũng tự trói mình vào đó.  Vả lại, thơ của tôi đã nói.
Tòa lâu đài của thế hệ trước không phải để tôi phá đổ hay vượt qua. Vần, âm điệu, những ý mòn, những hình ảnh cố hữu v.v., cũng là những công cụ đòi hỏi sự sử dụng chính xác. Và từ ngữ không bao giờ là tư sản.

Tòa lâu đài của thế hệ trước là nơi tôi ghi chép kinh nghiệm và trông những người bên trong thoát ra ngoài và tiếp tục cuộc hành trình của mỗi cá nhân họ.

Sự tập họp của ban chủ trương tạp chí này, những người khác nhau từ gốc gác, đời sống, kinh nghiệm, cho đến cách diễn tả và ngôn ngữ, không phải là sự hình thành của một trường phái.

Mà là những lối đi rời xa đàn cừu.