1.
Bài thơ bước từ thế giới không có, vào thế giới thực tại. Và như thế, bài thơ thị hiện sự nối kết mang tính nhân quả giữa những thế giới khác nhau, vắng mặt và có mặt. Nếu chỉ thuần bằng kinh nghiệm thực tại, mà vốn dĩ đời sống đã mỏng manh, chúng ta chỉ tạo nên những hiện tượng, và đánh mất chiều dài của thời tính. Dù rằng, bài thơ sớm hay muộn cũng phải chấm dứt, không phải do giá trị của nó, mà bởi chính nhà thơ, kẻ lúc nào cũng muốn nhấp nhổm tuyên án tử hình đứa con khai sinh. Chẳng phải bài thơ đã hiện hữu trước khi chúng được phát hiện hay sao? Chúng ta đã phải trầm tư rất lâu trong thế giới thực và phi thực. Chúng ta cũng đã sống trong khoảnh khắc bị chà sát giữa kịch và phi kịch tính, để tiếng nói được cất lên.
Chẳng phải vô tình mà những dòng chữ hiện ra, và những khoảng cách ở mỗi dòng, có phải là biểu hiện cho một thế giới trống không, nơi đó người đọc có thể kiến tạo một thực tại khác? Hạnh phúc và tai ương, chia xẻ và hòa nhịp, cùng mời mọc phiêu lưu. Chúng phá vỡ sự phân ranh mà bấy lâu nay người đọc và người viết vẫn đứng ở hai đầu bờ vực khác nhau. Thơ là một hành trình mở, không thể đóng kín. Sự thụ động tạo ra phân hóa và thơ, như cánh bay là đà trên mặt đất.
2.
Giá trị bài thơ không nằm ở chỗ, lập lại kinh nghiệm truyền thống, mà là vừa tiếp nối vừa đoạn tuyệt. Sự cảm nhận và kiến thức tích tụ từ bao năm, đưa tới sự thiên lệch. Đọc thơ là tiến trình mang tính nghi lễ. Đó là sự thể nghiệm, phá hủy mọi kiến trúc có sẵn, bên trong ta. Chúng ta có thói quen vay mượn và phản ánh các bậc thầy, nay đã ra người thiên cổ. Chúng ta sống như một cái bóng và chưa có can đảm quơ mồi lửa, đốt đi hình nộm là hình ảnh của chính chúng ta. Sự lột xác có khó khăn nhưng là một thách đố.
Bài thơ phơi bày sự thực, một nỗ lực không ngừng về ngôn ngữ và cách thế. Thơ là một ngôn ngữ nói, được chắt lọc từ hiện thực. Nhưng có một bí ẩn mà chúng ta không hiểu nổi. Ngôn ngữ là một mạch ngầm chứa đầy ma lực. Chúng ta đã tiếp thu đời sống và nói lại bằng tiếng nói khác? Chẳng phải là những bậc đại sư đã nghiền nát thực tại để đi tìm chân lý đó sao? Chúng ta không thể dùng lý luận để biện bác thơ. Bởi vì chẳng khác nào lấy cái hữu hạn đánh lừa cái vô hạn. Chỉ còn cách, mở ngỏ cánh cửa bước vào nơi chúng ta không hề biết trước.
3.
Trong chúng ta, mấy ai đã từng, cũng liều nhắm mắt đưa chân, đu dây giữa hai bờ sinh tử. Thơ là cuộc viễn du đến tận cùng, như cánh chim thiên di tới mùa đi tìm đất lạ. Dù rằng, chúng ta hủy thể này để cuối cùng, cũng chỉ nắm bắt được một hủy thể khác. Cuộc biến hóa triền miên ấy, bật sáng ý nghĩa, thực tại chẳng khá hơn, cũng bị ném vào vực thẳm.
Nhưng chúng ta vẫn cứ ương ngạnh tìm cách biện giải về thực tính thơ. Đơn giản hay huyễn hoặc đều rơi vào cái bẫy của phi lý. Có điều thi sĩ, hắn không hề biết, hắn đang làm thơ. Đó là lúc, hắn buông mình theo một sức hút tựa như sức hút của trái đất.
Như vậy, chúng đã ta có thể phủi tay mọi chuyện, thong dong dẫn xác vào hang hùm nọc rắn. Đúng hay sai, đành hạ hồi phân giải.
4.
Thơ đứng trước một lưỡng nan. Sự ngộ nhận từ nhiều phía, như mũi tên làm rướm máu. Nhà thơ, hắn ngoảnh mặt, đi tìm một thứ thời gian chưa hề có, một thế giới chưa có tên gọi. Hắn là kẻ bình thường ở chốn không bình thường. Điều này hiểu tại sao, hắn luôn luôn bị đẩy vào tình huống mang đầy tính bi kịch. Hắn phản ứng và bằng ngôn từ bắt cho được cõi trống vắng, nơi không có cả con người lẫn sự vật. Bởi chỉ như thế, hắn mới cảm thấy có tự do. Oái oăm thay, tự do là thứ không thể định nghĩa, ăn, nhai, nghiền, nuốt, một ảo tưởng. Vì chính hắn cũng là một thứ ảo tưởng khác.
Nói cho ngay, nhà thơ, hắn là kẻ đáng bị kết án và nguyền rủa.
Last modified on 07/11/2007 – 7:00 PM © 2004 – 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC