MAXIME ALEXANDRE

Diễm Châu

 

 
 

 

 

 

Maxime  Alexandre  sinh  ngày  24  -  1-  1899 tại Wolfisheim gần Strasbourg. Là con một trong một gia đình Do Thái cư  ngụ đã lâu đời ở Alsace, ông thuộc thế hệ những người bắt đầu cắp sách đến trường khi xứ này còn ở dưới triều Guillaume II, vua nước Phổ, hoàng đế nước  Đức. Tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ văn hóa đầu tiên  của ông là tiếng Đức.  Nhưng khi ông vừa 15  tuổi thì Alsace lại thuộc về Pháp.

Cuộc Thế chiến thứ Nhất bùng nổ.  Alexandre rời Alsace qua Thụy sĩ. Ở đây, dù ít tuổi,  ông đã có dịp quen  biết một số văn nghệ  sĩ người Alsace như René Schickelé (1883 - 1940), Hans Arp (1886 - 1966) cũng như các nhà trí thức chủ trương hòa bình qui tụ quanh Romain Rolland. Ông cũng tiếp xúc với mhóm Dada (Tristan Tzara, Hugo Ball).

Trở lại Alsace sau đình chiến và  trở thành một sinh viên Văn khoa của Strasbourg, thành  phố của tuổi  thơ nhưng cũng  là một thành  phố đều đều, buồn tẻ và tầm thường đến không chịu nổi, ông sống trải bi kịch của  thế hệ bị  hy sinh. Trong  tâm trạng của  một người tuổi true nổi loạn, ông đã gặp Aragon  ở Strasbourg vào năm 1923 và quyết định theo nhà văn này tới Paris.

Tại Paris, nhà  thơ tỉnh lẻ khám phá ra  thế giới của những người siêu thực, một thế hệ cảm, nghĩ như mình. Ông tham dự các hoạt động của nhóm siêu thực; trong đó, theo André Breton, ông "đại biểu cho týp người Rhénan và lãng mạn".

Trong thời kỳ đầu  ở Paris, Maxime Alexandre vẫn tiếp tục sáng  tác bằng tiếng Đức. Năm 1924, ông xuất bản tập thơ văn xuôi Zeichen am Horizont, đề tặng Arthur Rimbaud. Nhưng dần dà  ông tách rời trường lãng mạn và biểu  hiện Đức  để quay  về với  trường siêu  thực Pháp. Kỹ thuật viết  tự động  của trường  siêu thực  đã giúp  ông giải quyết một vấn đề gai góc trong đời (thay đổi ngôn ngữ), tự giải thoát và tìm ra một ngôn ngữ thi ca mới cho mình.

Vào cuối những năm 20 sang đầu những  năm 30, Maxime Alexandre bắt đầu cho xuất bản những tác  phẩm  đầu  tiên  bằng  tiếng  Pháp:  Les  desseins  de la liberté (1927),  Mes  respects  (1931),  Le  Corsage  (1931), Secrets (1932), Mythologie personnelle (1934), Le mal de nuit (1935),  Sujet à l’amour (1937), La loi immortelle  (1939). Theo một nhà nghiên cứu Pháp, Bernard Bach, xét về kỹ thuật  cũng như chủ đề, các văn bản của thời kỳ này (được in lại vào  những năm 70) nằm trong phong trào siêu thực.  Thay  đổi  cuộc  đời,  giải  phóng  hoàn toàn con người, những khẩu hiệu quen biết của  các nhà siêu thực, cũng là những  gì Maxime Alexandre đang miệt mài theo đuổi.

Chuyện dấn thân vào chính trị của Maxime Alexandre đã được cụ thể hóa bằng sự việc ông là  nhà  siêu thực đầu tiên đặt vấn đề  sáp lại gần đảng cộng sản. Khát vọng công bằng đã đưa ông tới chỗ tham gia đảng trong một thời gian. Nhưng những cố gắng của ông đã tỏ ra vô hiệu. Trong Ký ức của một nhà siêu thực (1968), Maxime Alexandre viết: ... đẹp biết bao chủ nghĩa cộng sản trước khi có người cộng sản (!)

Năm 1933, Maxime Alexandre rời nhóm siêu thực quy  tụ quanh André Breton, - có người cho là vì vụ  bất hòa giữa Breton và Aragon, nhưng  ông không chối bỏ trường phái này  và tiếp tục theo đuổi một  lộ trình siêu thực khá riêng tư, ở bên lề...

Vào Đệ Nhị  Thế chiến, Maxime Alexandre trở  thành binh nhì trong quân đội Pháp. Oâng bị quốc  xã Đức bắt  làm tù binh  và giam giữ  ở Baccarat trong miền  rừng núi  Vosges. Trong lúc cáo  bệnh nằm bệnh viện,  tình cờ ông bắt gặp một viên đại  tá Đức đang đọc một tác phẩm  của ... chính ông và do đó, đã có dịp xin đổi về một bệnh viện gần Dijon. Trên chuyến tàu về bệnh viện mới, Maxime Alexandre đã nhảy ra khỏi xe lửa trốn thoát và tiếp tục cuộc đời ẩn tránh...

Chủ trương quốc xã với những hậu quả nguy hại đã khiến Maxime Alexandre ý thức thêm Do-thái-tính của  mình. Ông tiếp tục  tìm kiếm và, như  đã tự phân tích  trong Nhật  ký (1975),  cho rằng  công bằng hay công lý là then chốt trong Do thái giáo và bác ái hay tình yêu chính là nền tảng của  Thiên chúa giáo. Muốn  đẩy xa hơn nữa  Do-thái-tính của mình, tất nhiên ông đã chọn lựa tình yêu... Năm 1939 ông gặp bà Berthe, một người đã có chung nhiều kỷ niệm với ông ở quê nhà. Hai người lập gia đình và  sinh được hai người con là Ariel và Sylvia. Có lẽ cũng chính vì tình yêu mà ông đã để mãi tới sau khi thân mẫu  qua đời mới trở  lại đạo Thiên chúa.  Năm 1949, thi hào Pháp Paul Claudel có dịp trở thành người đỡ đầu cho Maxime Alexandre.

Thế tuy nhiên, cuốn  Nhật ký in năm 1975 cho thấy,  ông vẫn tiếp tục tìm kiếm. Ông không hài lòng với chính Paul Claudel, càng không thể hiểu nổi hành  động của nhiều  người đồng đạo.  (Cộng đồng không  làm ông vui.) Và rốt cuộc cảm thấy mình trở  thành một kẻ hoàn toàn xa lạ, ở ngoài lề... Ông tiếp tục sáng tác thi ca bằng Pháp văn và chuẩn bị cho in lại những bài thơ đã viết  trong giai đoạn trước (nhất là những bài trong La Peau et  les Os, Gallimard, 1956) chung với  những bài mới trong các tập:  L’oiseau de  papier  (1972),  Circonstances de la poésie (1976) và  Portrait  de  l’auteur  (1978).  Ông  cũng  trở lại với tiếng mẹ đẻ của thời kỳ đầu  trong một tập thơ nhỏ với cảm  hứng được coi như tân lãng mạn, tập  Durst und Quelle (Cơn khát và  Nguồn suối) in tại Thụy sĩ năm 1952.

Sau một cuộc đời  luân lạc, năm 1967 Maxime Alexandre trở về  Strasbourg để ở lại hẳn tại thành phố này. Trong những năm  tháng cuối đời ở quê nhà Maxime Alexandre có cái nhìn thật phê phán đối với tình hình chung của Alsace, nhưng ông vẫn được  các  nhà  thơ  trẻ  của  xứ  này  rất  kính  trọng. Maxime Alexandre mất tại Strasbourg  ngày 12  - 9-  1976 và  được chôn  cất tại  nghĩa trang Rosheim gần Molsheim, về hướng núi  Nữ thánh Odile, nữ thánh bảo hộ  cho xứ  Alsace, một  thiếu nữ  mù đã  trở thành  kẻ ban phát ánh sáng, người  mà theo lời  của chính Maxime Alexandre, không bao giờ  ngừng cuốn hút tôi. Trên  bia đá đơn  sơ chỉ ghi mấy  hàng tên họ,  ngày sinh và ngày mất...

*

Maxime Alexandre để  lại mười hai tập thơ vừa  bằng tiếng Pháp và tiếng Đức, mười hai tập  văn xuôi, kể cả  tập Ký ức của  một nhà siêu thực  và tập Nhật ký  (chưa in hết), vở  kịch Người Do-thái lang  thang và nhiều bài nghiên cứu về  văn chương Đức và các nhà lãng  mạn Đức. Maxime Alexandre còn là người dịch thơ Holderlin và Hans Arp.

Paul Valéry,  trong lời phát biểu  khi trao tặng một  giải thưởng thi  ca cho  Maxime Alexandre  ở Paris,  đã gọi  ông là (Nhà thơ) Virgil của trường siêu thực.  Louis Calaferte, nhà văn Pháp hiện đại (mới  mất trong năm  nay) trong thư  gởi bà Berthe  Alexandre (tháng 12-1992), cũng cho biết rằng  mình không phải chỉ là người ngưỡng mộ mà là một kẻ si tình Maxime Alexandre, một nhà thơ đích thực. Có thể coi Maxime Alexandre  như một người đã phối hợp đôi nét của trường siêu thực với khuynh hướng lãng mạn Đức.

Chịu  ảnh hưởng  của trường  siêu thực,  Maxime Alexandre rất chú trọng tới sức mạnh sáng tạo  của tưởng tượng, khát vọng, cảm tính, sự  huyền bí.  Giấc mơ,  sự tìm  kiếm của  vô thức  trở thành một phương tiện thám hiểm thế giới  của con người toàn diện. Ông cũng rất chú trọng tới tuổi thơ, đứa trẻ không bao giờ chết trong mọi người và  cố nhiên là  tới tình yêu,  nền tảng của  mọi thi ca. Sự kết hợp giữa nước và người đàn bà là một nét tiêu biểu trong tác phẩm của ông.

Ảnh hưởng của  khuynh hướng lãng mạn cũng  thật hiển nhiên. Thiên nhiên, lòng  yêu mến tự do,..  gần như là sườn  cột hay chính nội dung của tác phẩm. Kết hợp trong hai trường phái ấy trong một con người, một nhà thơ, phải chăng còn là sự mầu nhiệm của một miền đất: Alsace, một ngã tư, ngã tư  của các nền văn minh, của các ngôn ngữ, của các tôn giáo... và nỗ lực không ngừng của một con người của  vùng đất  này nhằm  chế ngự,  vượt thoát  số phần  làm bằng những mâu thuẫn tàn bạo của đời mình để đi tới, đi tới mãi..

                                                     DC
                                               Lộ trấn, 1-6-1994

 

Chú thích
Một vì sao mới một bông hồng  mới gồm thơ và thơ xuôi trích trong hầu hết  các thi phẩm chính  yếu của Maxime Alexandre.  Trong khi dịch, tôi  đã có dịp  gặp bà Maxime  Alexandre, được bà  dành cho nhiều tài  liệu hiếm cũng  như giải thích  một số điểm  trong văn bản. Tôi cũng  rút được một số kinh nghiệm  hữu ích khi tham khảo bản dịch tiếng  Đức của Kay Borowsky (Maxime  Alexandre, Das Meer sang fern von uns, Henssel Verlag, Berlin, 1984).

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC