TÍNH PHI TRUYỆN

Phan Tấn Hải

 

 
 

 

 

Khi thơ không còn dùng để kể chuyện, đó là khởi đầu vào tính phi-truyện. Bài viết này sẽ tìm hiểu tính phi-truyện trong thơ, và như một nối tiếp bài đã đăng trên Tạp Chí Thơ số mùa thu 94.

Chúng ta không dùng chữ phản-truyện để nói lên như có gì phải đối kháng, phải phủ nhận, phải đương cự. Thơ không liên hệ gì tới các chức năng chống đối này, mặc dù chính nhà thơ có thể tự khoác cho mình vai trò đó.

Thơ cũng như nước, ở đâu cũng phi hình dạng, một màu bình đẳng, nhưng ở bình tròn thì tựa dáng tròn, ở bình vuông thì như dáng vuông, đưa vào ly thì mang dạng hình ly, đổ vào câu sáu tám sẽ mang dạng lục bát, ném vào vần bảy chữ thì có dáng thất ngôn. Thơ thực sự là vô-tướng. Nhưng ly hình tướng, tức lìa ngôn ngữ, thì không còn thơ. Vì vậy, thơ không gọi được là vô tướng hoặc hữu tướng. Cũng có thể nói, thơ tương tự như đời sống, trong nghĩa đời sống gắn liền với hiện tượng, biến diễn muôn hình vạn trạng, nhưng thấy cái hiện tượng muôn hình vạn trạng chưa thực sự đủ để nắm bắt cái gọi là đời sống.

Tại sao không gọi là phản-truyện, mà nên dùng chữ phi-truyện?

Bởi vì phản-truyện, tức phản-kháng-tính-truyện trong thơ, ở một góc độ nào cũng tự thân mang tính-truyện rồi. Nếu không, chúng ta sẽ không có đủ lý luận để phản kháng. Và để cho lý luận thuyết phục được, thì tự thân tính-truyện phải đầy đủ; nếu không, sẽ chẳng có độc giả nào hiểu được và lý luận sẽ không mang đủ sức mạnh phản kháng. Thử tìm một thí dụ để dẫn chứng cho lý luận này. Khi chúng ta phản kháng tính-truyện, thì phải tìm một số luận cứ hoặc dẫn chứng để thuyết phục người đọc rằng tính truyện không có liên hệ gì tới thơ. Và khi phải thuyết phục thì cần được hiểu, hay ít nhất cũng phải trình bày trong một văn mạch hợp lý. Như vậy chính chúng ta đã hồi phục lại tính-truyện trong chính các lý luận phản-truyện.

Do vậy, khi dùng phản-truyện để phá hủy tính-truyện thì tự nhiên đã dựng lập một lâu đài kiên cố cho tính-truyện. Cách phá hủy tính-truyện duy nhất là đứng rời cả có và không, tức xa lìa cả tính-truyện lẫn phản-truyện, cách khác nghĩa là phi-truyện. Lý luận này gần với lý luận Bát Nhã: chống với Có thì là Không, nhưng tự thân khi chống cái Có thì lại đã dựng lập cái Có; phải xa lìa cả Có và Không, mới thực sự là đứng ngay trên cái đời sống chân thực.

Tính truyện, không cần phải đầy đủ cả bài thơ hoặc một coat truyện, cũng có thể hiển lộ ngay trong một câu sáu chữ (Thí dụ đã phân tích kỳ trước: Gìn vàng giữ ngọc cho hay). Khi thơ còn giữ tính truyện thì đã mượn thêm một yếu tố khác (thường thì xúc động, hoặc ly kỳ, hoặc gay cấn) để tạo thêm sức mạnh cho thơ. Nhưng đời sống thực, có khi, hỗn loạn, khó hiểu, xa lìa mọi lý giải, vô trật tự--nghĩa là không gần, hoặc không có tính truyện.

Chữ tính-truyện trong Anh ngữ là narrative. Trong nhiều tự điển tiếng Anh không có chữ mang nghĩa phản truyện hoặc phi truyện. Tuy nhiên đứng về mặt tiểu thuyết thì trước kia có phong trào anti-novel (phản tiểu thuyết) bên Pháp nhưng thực sự cũng là một dựng lập khác cho tiểu thuyết. Điều này cho thấy quan điểm văn chương ở Âu Châu khác với Hoa Kỳ, ít nhất cũng ở nơi nhìn về tính truyện.

Đời sống thực sự xa lìa cả tính-truyện lẫn tính-phản-truyện. Thơ là một phần của đời sống, do vậy thơ không cần dính gì tới tính truyện hoặc tính phản truyện. Thơ, nó thì như vậy; chúng ta chỉ có thể nói thế. Nếu may mắn, đời sống bỗng nhiên xảy ra giống như trong tiểu thuyết thì cũng giống như trúng số độc đắc, và cũng không có gì buộc nhà thơ phải kể lại mảnh đời hiếm hoi đó. Hãy để cho các ông Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu làm điều đó, điều mà họ đã xem tính truyện ngang hàng với tính thơ.

Thử xem một thí dụ, ta gọi là câu I:

Tôi về Hà Nội một đêm

Câu vừa viết trên mang đầy đủ tính truyện: có một nhân vật xưng tôi (ngôi thứ nhất); có một hành động (về); có một không gian (Hà Nội); có một thời gian (một đêm); và có một trật tự văn phạm hợp lý để người đọc thuận theo dòng văn, không cần ngưng lại mà thắc mắc về chữ, về nghĩa, về ký hiệu, về cái được ký hiệu, hoặc về cấu trúc.

Thử biến đổi câu trên thành, ta gọi là câu II:

Hà Nội một đêm tôi về

Câu này đặt theo cấu trúc văn phạm nghịch đảo (bởi vì các mệnh đề bổ nghĩa đứng trước chủ từ và động từ). Câu này cũng có đủ nhân vật, hành động, không gian, thời gian; nghĩa là đủ yếu tố để cưu mang tính-truyện. Chỉ khác biệt là không theo văn phạm truyện kể ngoài đời, buộc người đọc ngưng lại một đôi chút vì ngạc nhiên, vì thấy không thuận với thói quen ngôn ngữ thường nhật, và có thể buộc phải đọc lại để nắm rõ hơn--không phải điều tác giả muốn nói gì, mà là điều câu sáu chữ này nói gì, và có thể phải cần đối chiếu thêm trong một văn mạch. Tính truyện trong câu này đã bị giảm bớt.

Và thử biến đổi câu trên thành, gọi là câu III:

Một đêm Hà Nội tôi về

Câu này cũng gần với câu vừa nói bên trên, nhưng khác biệt là gây mơ hồ, khó hiểu hơn; tức tính truyện bị giảm trừ thêm một bậc mặc dù không có chữ nào bí mật cả. Điều mơ hồ ở đây là, người ta không biết chính xác có phải chữ Hà Nội bổ túc nghĩa cho một đêm hay không (có phải một đêm mang không khí Hà Nội, hay là vào một đêm và với nơi đến là Hà Nội). Nếu dùng tiếng Anh hẳn sẽ chính xác hơn, nhưng tính thơ lại gắn liền hẳn với đặc chất của ngôn ngữ nhà thơ sử dụng với nhiều điều không thể phiên dịch hoặc chuyển ngữ.

Có thể thấy, ở câu I điều được chú ý nhất là Tôi về; ở câu II được nhấn mạnh trong toàn câu là Hà Nội; và ở câu III, có vẻ như ý chính lại là Một đêm.

Nếu dùng câu I, thì chỉ như muốn chuyển ý, muốn truyền thông, như văn nói. Nhưng nếu dùng câu II, thì có thể làm shock những người vận động cấm du lịch Việt Nam. Và nếu dùng câu III, thì lại nhấn mạnh nghĩa âm thầm, u ám, gợi ngay tức khắc nghĩa cho người đọc thấy là len lén, không phải về ban đêm. Tuy nhiên đó chỉ là vấn đề khác, ở đây ta thấy một kết luận, khi không chú ý tới tính truyện, thì sẽ buộc người đọc chú ý nhiều hơn tới ngôn ngữ.

Nhưng có thể có một ngôn ngữ (thí dụ ngôn ngữ thơ) hoàn toàn xa lìa tính truyện? Nếu điều đó xảy ra, thì người đọc sẽ hoàn toàn chú ý tới ngôn ngữ, và có thể sẽ không hiểu thực sự nhà thơ muốn nói gì. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ hội họa, tính truyện có khi đã hoàn toàn bị phá hủy, và các phương tiện hội họa (màu sắc, đường cong, đường thẳng, các khối hình...) tự thân trở thành một hữu thể nghệ thuật, chứ không còn để trình bày, giải thích, mô tả một cái gì khác. Hiện thời, chúng ta chưa thấy điều này cho thơ. Thơ phần nào vẫn mang tính-truyện, dù có đang khó hiểu cách nào đi nữa. Lý do có lẽ thật đơn giản: ngôn ngữ tự thân đã mang tính truyện dù nhiều hay ít. Và nếu có ngôn ngữ nào xa lìa tính truyện thì lại không nằm trong các bộ tự điển, mà chỉ còn là những âm thanh bí mật, một kiểu thần chú chẳng hạn. Tới đây chúng ta có thêm một kết luận, phá hủy tính truyện, nếu có, chủ yếu sẽ name trong cấu trúc văn phạm, chứ không chủ yếu ở những chữ bí mật.

Câu hỏi nơi đây sẽ là, nếu thơ thực sự là vô tướng, nếu thơ thực sự là xa lìa tính-truyện lẫn tính-phản-truyện (tạm gọi là phi-truyện), thì có cách nào hình dung được một cấu trúc thơ? Trước tiên thử nói về đời sống, bởi vì thơ sinh khởi và được doing lập từ đời sống. Thơ cũng như đời sống, cùng mang tính vô tướng (nghĩa là không có hình trạng, hoặc một nghĩa khác sẽ là mang đủ muôn hình vạn trạng), cũng như không tự thân có tính-truyện mà cũng không cả tính-phản-truyện.

Chúng ta không thể giải quyết vấn đề này nếu thuần túy đứng về mặt hữu tướng. Bởi vì nếu cho đủ chữ vào các thể lục bát, that ngôn, tám chữ... cũng chưa hẳn đã là thơ. Nếu vậy thì đã quá dễ. Tuy nhiên, nếu phá hủy các thể trên, hoặc cứ ngắt thể lục bát thành dăm bảy câu thì cũng chưa hẳn là thơ. Cấu trúc thơ, nếu có, không nằm ở các kiểu trên. Nhưng nếu đứng về mặt vô tướng thì ngôn ngữ và lý luận hiển nhiên là bất cập.

Hoặc thử đi tìm một phương pháp khác, xem có thể tìm được cấu trúc của cái không-thơ chăng? Cách lý luận này nếu có, hiển nhiên cũng không thể chỉ danh đúng được cái gọi là cấu trúc thơ, bởi vì chỉ danh được một trăm anh phi-dân-tộc cũng không có nghĩa là tìm được một anh dân-tộc. Đơn giản, thơ và cái không-thơ không đối nghịch nhau, nhưng đã có sẵn cả hai trong ngôn ngữ và đời sống, cũng như sương mù và nắng ấm trên mặt biển; khi cái này tràn ngập thì cái kia bị xua đi, và ngược lại. Những lý luận trên nhiều phần trái nghịch với cách nhìn của nhà formalist, nhưng không phủ nhận khía cạnh cái đẹp vẫn có thể độc lập với xã hội.

Nhưng thơ cũng không thể là ngôn ngữ hồn nhiên, không cần tập luyện; điều này nếu đúng, có lẽ chỉ đúng cho một số nhà thơ của Beat generation, nhưng nếu nhìn quá trình trưởng thành, rèn luyện hẳn phải ảnh hưởng tới cái gọi là hồn nhiên này--Có phải đây là giai đoạn trở về ngây thơ của những con sư tử? Chúng ta cũng thấy, nhiều bài thơ hay vẫn do từ vật vả máu xương mà nên. Thử xét lại tiến trình hình thành một bài thơ, phải do từ suy nghĩ của nhà thơ mà nên, và khó thể nói rằng suy nghĩ này là xuất thần (do Trời đem xuống) hoặc là thơ dại (vậy còn ba hoặc bốn mươi name trưởng thành để đâu). Tới đây, chúng ta gặp thêm một đầu mối, ngôn ngữ thơ hình thành từ suy nghĩ thơ. Cách khác, không có suy nghĩ thơ, nhận định thơ, đôi mắt thơ, cảm xúc thơ, thì sẽ không có thơ. Điều này vẫn chưa giải quyết được vấn đề, bởi vì có rất nhiều người có cảm xúc thơ nhưng lại không làm thơ được. Tuy nhiên, cốt tủy đã tìm được là, phải có suy nghĩ thơ thì mới có thơ. Và suy nghĩ thơ, hay một vận hành của tư tưởng, cũng là một thế giới của mịt mờ--hệt như trên đã viết--không có liên hệ tất yếu nào với vô hoặc hữu tướng, tính truyện hoặc tính phản truyện cả.

Vấn đề còn lại chỉ là, thế nào là suy nghĩ thơ, chứ không phải là làm thơ. Thấu đáo chỗ này sẽ có thể đổi toàn triệt cái thế giới kinh hoảng này, và đó là chức năng cao quý nhất của nhà thơ.

 

 

 

HOME