LẠI DỊCH TÙY VIÊN THI THOẠI

Phan Khôi

 

 
 

 

 

 

Cái hứng ở đâu lạ-lùng đưa đến  cho tôi, xui hôm nay tôi lại dịch Tùy-viên Thi-thoại lần nữa.

Việc này năm  ngoái tôi có làm qua trong  Trung-Lập một lần rồi. Việc rất khó! Rõ là việc khó!

Khó thì làm mà làm gì? Bởi thấy là có ích mới làm.

Năm ngoái tôi  có thử dịch một tắc  Tùy-viên Thi-thoại, tưởng là làm một việc mà công-cán đổ xuống  sông xuống biển, không ngờ cũng có ảnh hưởng ít nhiều.

Bấy giờ, có vài  ông đọc qua mấy bài dịch ra  đó rồi viết thư cho tôi mà hỏi đến nguyên-văn. Một vài ông ấy đều tỏ ý khen phục lắm. Không phải  phục gì dịch-giả là  tôi; nhưng phục những  tác-giả của mấy bài ấy khéo  đem cái thiên-thú mà tả vào  vận-văn. Họ nói: trong thơ nôm ta thật ít khi có ai tả  được đến như thế. Bởi vậy, họ cho việc làm của tôi là có ích.

Tôi cũng thấy chỗ  đó. Quả là những thi-nhân của ta  hay rập theo cũ quá. Bài nào cũng cứ những là bóng ác chinh chinh, gió vàng hiu-hắt, canh khuya trằn-trọc. v.v... Chớ ít ai chịu khó lấy cái biệt-thú, cùng cái chân-tình của mình mà tả ra cho mặn-mà một chút.

Thơ như vậy thì  bảo hay làm sao được? Phàm thơ  hay, là tả tình tả cảnh cũng đều phải cho chân. Có chân mới thấy hay. Cái nầy, họ cứ rập theo  những chữ có sẵn,  những cú-điệu tầm-thường, thành  ra nhiều khi cái cảnh họ  trải qua không có như vậy, cái tình  họ ôm ấp không có như vậy, mà  họ cũng cứ nói ra  như vậy, thì nó lấy  gì mà hay được chớ?

Bởi vậy  tôi đọc thơ họ  mà bắt sợ! Không  sợ gì, chỉ sợ  họ phỉnh mình! Họ nói  bóng ác chinh chinh mà  không biết hồi đó có  phải hồi mặt trời xế  không? Họ nói gió vàng  hiu hắt, chỉ về mùa  Thu, nhưng hoặc-giả nó  là mùa Hạ, mùa  Đông cũng chưa biết  được. Họ nói canh khuya trằn-trọc, nhưng tôi ròng những sợ  lúc đó chính là lúc họ ngủ khì!

Như thế thì nên làm sao cho có một mớ thơ tả tình tả cảnh cho that chân để đem  ra làm khuôn làm mẫu  thì có lẽ hay lắm.  Song ở đâu cho có bây giờ?  Muốn có, tưởng chỉ phải ra công  mà dịch thơ Tây thơ Tàu cho nhiều mới có.

*

Tôi muốn  dịch, là muốn dịch  những thơ chuyên tả  tánh-linh ấy kia. Song tôi đã nói rồi, nó là việc khó quá mà! Bởi vậy hôm nay tôi phải lánh nặng tìm nhẹ, dịch mấy bài về lối khác.

Mấy bài tôi sẽ dịch đây là thuộc về hạng sử-liệu. Bởi vậy nó cũng có ích mà ích về đằng khác.

*

Những tôi ngay con thảo đời xưa đều là nhờ một chữ tình mà làm họ nên ngay nên thảo. (Người mà đã không có tình thì thôi, còn làm được gì?)

Ông Hồ Trung-Giản  (người đời nhà Tống) dâng sớ  hạch tội Tần-Cối (một  gian-thần lúc  bấy giờ)  rồi  bị  đày qua  Lãnh-Nam. (Qua  ở Lãnh-Nam, ông Hồ  gá nhân-tình với một ả đào  tên là Lê-Tiến; nàng nầy má núng đồng tiền nên cũng có tên ngoài là Lê-Oa.) Đến lúc được tha về, ông Hồ bận-bịu cùng nàng Lê-Oa mà không nỡ về.

Việc ông  Hồ đó cũng  giống với  việc  Tô-Võ. Khi Tô-Võ  bị cầm ở Hung-nô, cưới  vợ Hung-nô. Vì (xưa  nay) những người có  khí-tiết cô cao, làm theo  ý mình, thì thường không hay  giữ việc nhỏ-mọn. Khổng -tử có nói: "Xem điều lỗi thì  biết người nhân", tức là những người như thế.

Vậy mà thầy Châu-tử (Châu-hy ở đời nhà Tống, có tiếng là đại-nho) lại làm bài thơ chê Hồ Trung-Giản rằng:

Thập niên phù hải nhất thân khinh,
Qui đối Lê Oa thuợng hữu tình.
Thế thượng vô như nhân dục hiểm,
Kỷ nhân đáo thử ngộ bình sinh.

(Tôi dịch ra nôm theo thể tuyệt cú):

Mười năm vượt biển chiếc thân phao,
Về, đối nàng Lê bận-bịu sao!
Cái dục trên đời nguy-hiểm nhất,
Hư thân vì nó biết là bao.

(Thầy Châu-tử cũng  ở đời ấy và thầy cũng  làm quan tại triều như ông Hồ. Gặp khi Tần-Cối lộng quyền, thầy Châu-tử cũng có thảo sớ tính dâng vua để đàn-hạch; nhưng thầy còn nghi ngờ gì đó nên chưa dâng. Thầy bèn bày  ra bói thử cát hung thế nào.  Bói gặp quẻ xấu rồi thầy nín luôn  không dâng sớ. Trên đây là một  sự thực có chép trong nhiều sách bút ký của người đời bấy giờ đáng tin.)

(Bởi vậy) ông  Cao Thủ-thôn họa theo vần bài  thơ thầy Châu-tử mà chế lại thầy ấy như vầy:

Phê lân nhất sớ tử sanh khinh,
Vạn tử đầu hoang thượng hữu tình.
Bất học Độn ông bổng thi thảo,
Cam tâm kim khẩu tự du sanh!

(Bài họa  nầy móc đến  ruột ông Châu-Hy,  khó chịu lắm.  Tôi nghĩ hoài mà dịch  ra thơ không được. Huống  chi lại còn họa theo  vận trên thì dịch lại càng khó hơn nữa. Vả, nếu dịch ra thơ thì nhiều chữ không tài nào làm rõ nghĩa được. Vậy tôi xin dịch ra tản-văn. Ấy là sự cực chẳng đã lắm, chớ tôi có muốn làm lở dở như vậy đâu.)

(Dịch nghĩa đen:  một bài sớ dâng lên, như  rờ vảy ngược con rồng, coi sự chết sống là nhẹ. Muôn phần chết đày ra chốn cùng hoang mà còn có tình.  Không thèm bắt chước Độn-ông bưng  cỏ thi mà bói, đành lòng, khóa kín miệng mà ăn trộm sự sống.)

(Rờ vảy ngược  con rồng (phê long chi nghịch  lân) là nói sự phản đối ý kiến nhà  vua, nguy hiểm lắm.- Đời xưa có  dùng cỏ thi mà bói cũng như bói bằng vỏ rùa.- Độn-ông là hiệu thầy Châu-tử.- Mình không đáng sống nữa mà cố-lỳ để sống, gọi là ăn trộm sự sống: du sanh.)

*

Nhẫn là một  tắc trong Tùy-viên Thi-thoại về cuốn  3, tờ 20, phía sau (mỗi tờ hai  phía). Trong đó những chữ  nào câu nào có dấu  ngoặc là do tôi lấy  sự biết của mình  mà thêm vào. Vì  ông Tùy-viên làm sách theo trình-độ  những người đọc sách  của ông, không cần  nói kỹ cũng đủ hiểu. Nhưng đến khi dịch ra, nếu để y như vậy, sợ độc giả không quen thì không hiểu, nên tôi phải thêm.

Đọc đoạn đó đủ thấy cái lý-học của Tống-nho chẳng qua là vậy vậy! Chuyện là chuyện  làm thơ mà thật là  một cái tài liệu tốt  để phê-bình lý-học của Tống-nho.

Trung-Lập-báo Sàigòn
1931-1932

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC