THƠ, CẦN CÓ CÁI NHÌN TÔN TRỌNG

Nguyễn Trọng Tạo

 

 
 

 

 

 

Trên nhiều mặt báo từ Hà Nội thành phố gần đây đã giới thiệu hàng loạt bài "Trao Đổi Về Thơ Hôm nay" của khá nhiều nhà thơ, nhà phê bình văn học và của cả những độc giả yêu thơ là lính , là công nhân, nông dân v.v... Người tham gia nỗ lực nhất là nhà thơ Trần Mạnh Hảo, anh viết  hàng loạt bài phê  bình phê phán tập  thơ Sự Mất Ngủ Của Lửa  của Nguyễn Quang  Thiều (Giải thưởng  Hội Nhà văn  VN 1993) là "thơ Tây giả cầy", tập  thơ Bóng Chữ của Lê Đạt là "thi pháp ú ớ", tập thơ Ô Mai EM của Đặng Đình Hưng là "không phải  thơ", tập  thơ Người  Đi Tìm  Mặt của  Hoàng Hưng "vô nghĩa, kỳ quái, dung tục", "đánh đố người đọc"; anh lên án Phạm Xuân Nguyên là "Escôca sút bóng vào lưới thơ đội nhà", dám trao "là cờ máu của thơ ca cách mạng" cho  nền Đệ nhất cộng hoà gồm Thanh Tâm Tuyền và  nhóm Sáng Tạo; và  anh đề cao đóng  góp nhằm cách tân thơ ca của  cả một đội ngũ đông đảo các  nhà thơ chống Pháp và chống Mỹ trong  hai cuộc kháng chiến của  dân tộc. Một số người  đã viết bài tranh luận  với Trần Mạnh Hảo. Nhà báo  trẻ Phạm Tường Vân đã làm một cuộc phỏng vấn Trần Mạnh Hảo (có băng ghi âm), nhưng sau đó anh đã điện  cho Tổng biên tập tạp chí  Diễn Đàn Văn nghệ Việt Nam đề nghị không đăng bài phỏng vấn  đó, với lý do là nhà báo đã lén ghi âm, dù theo Phạm Tường Vân là "anh Hảo còn đi mua cassette cho Vân".

Tôi là một người  luôn luôn thấy mình "yếm thế" trước  các cuộc tranh luận lớn tiếng, cho nên chỉ dám đứng  ngoài để làm quan sát viên, đặng rút được  đôi điều bổ  ích cho nhận  thức về thơ  và đời sống chung quanh mình. Và tôi thấy trong tranh luận thường xảy ra những bất đồng ngôn ngữ. Khi đã bất đồng ngôn  ngữ thì tranh luận dễ dẫn tới bất hòa. Và  tôi chợt nhớ bài thơ  Bất Hoà của Vôznhêxenxki như một an ủi cho sự "yếm thế" của mình:

không nhất thiết phải thanh minh
Đừng giận em ơi, ta đâu là đôi khi
Giải thích làm chi khi lý trí không thể hiểu
Và tâm hồn thì biết hết cả rồi, giải thích nữa làm chi

Vì vậy, tuy có một số ý kiến  khác biệt với Trần Mạnh Hảo, tôi vẫn không thích tranh luận cùng anh. Mỗi người đều có quyền phát biểu chính kiến của mình, và  Trần Mạnh Hảo đã nói rõ chính  kiến của anh về thơ hôm  nay. Là nhà  thơ cùng thế  hệ với Trần  Mạnh Hảo, trong bài viết ngắn này, tôi chỉ xin trình bày vài suy nghĩ nhỏ của mình về thơ và phê bình  thơ, với mong muốn mọi người cùng  dành cho thơ cái nhìn cởi mở và tôn trọng.

1. Tôi có anh  bạn làm nghề bác sĩ, nhưng lại  mê thơ đến nỗi anh nghĩ, thơ mới  là cái nghiệp truyền kiếp của  mình. Quan niệm thơ của anh trước  hết phải là  Thơ-Cá-Nhân-Công-Nhân, nghĩa là  thơ phải góp phần  cải tạo và xây  dựng Xã-Hội-Người. Các quan  điểm chính trị, xã hội trong  thơ anh quá mới mẻ, mạnh mẽ  và táo bạo, đã khiến cho nhà phê bình Ích Xì, một điển hình người yêu chế độ đến cuồng tín nổi giận, đánh một bài nặng  chùy trên báo. Lại gặp thời báo đã đăng  bài đánh thì không  có đăng bài đỡ,  thế là anh bạn tôi phải mang án treo lơ lửng. Những người yêu thơ (cũng cuồng tín) và đồng nghiệp trong bệnh viện nghiễm  nhiên coi anh như một thằng dở hơi, phản động! Anh buồn lắm, định bỏ bút, nhưng khốn nỗi cái máu thi sĩ cứ sôi lên sùng sục,  anh lại làm thơ. Rút kinh nghiệm lần trước   bị   đánh   vì   Thơ-Thế-Sự,   lần    này   anh   làm Thơ-Tình-Vĩnh-Cữu. Đã  gọi là Thơ-Tình-Vĩnh-Cửu  thì thời nào  mà chẳng  cần, vì  nó là  nhu cầu  tự thân  của loài  người. Không ngờ khi Thơ-Tình-Vĩnh-Cửu của  anh vừa đăng lên  báo, lập tức anh  bị nhà phê bình  thân yêu ngay từ  trong nhà là Bà-Xã,  đùng đùng nổi giận đánh cho một trận toe tua. Chưa đã, nhà phê bình thân yêu Bà-Xã còn mở cả một chiến dịch  truy tìm đối tượng của Thơ-Tình-Vĩnh-Cửu để  đánh tiếp.  May thay,  bạn tôi  là một  người đàn ông đứng đắn nên cuộc truy tìm của Bà Xã  không thành, nhưng bà ra lệnh cho chồng   "muốn   gia   đình   êm   ấm   thì   phải  tiệt  cái  nọc Thơ-Tình-Vĩnh-Cửu ấy  đi". Vâng lệnh  nhà phê bình  thân yêu, anh thôi làm thơ được mấy tuần liền.  Nhưng cái máu thi sĩ quái ác nó không chịu cạn trong anh. Như đã nói ở trên, thơ đã là cái nghiệp truyền kiếp rồi  thì làm sao đoạn tuyệt được,  lần này thận trọng hơn,  anh  quyết  làm  Thơ-Nghệ-Thuật-Chữ.  Chơi  chữ là một nghệ thuật xưa nay khối người ưa thích. Mà còn trọng nữa. Chả thế mà ở phương Tây người  ta còn nói chắc: "Chữ bầu  lên nhà thơ"? Thế là công  cuộc  Cách-Tân-Chữ  của  anh  được  tiến  hành,  và tao đàn Thơ-Nghệ-Thuật-Chữ dần dần  đưọc xác lập, thu hút  không ít người mê chữ  nghĩa. Nhà phê  bình thân yêu  Bà Xã vốn  chữ nghĩa mới ở trình độ xóa mù nên không can  thiệp gì vào đấy được. Còn nhà phê bình cuồng tín Ích  Xì thì cho qua loại thơ này  vì không thấy nó hàm chứa một quan  điểm chính trị đáng ngờ nào.  Tưởng thế là yên, nào ngờ phái Thơ-Nghệ-Thuật-Chữ của anh  đã vô tình chạm phải gout chân A-sin của phái Thơ-Thành-Thật-Khai-Báo.  thế là thi đàn ầm ĩ cả lên. Phái Thơ-Thành-Thật-Khai-Báo vốn lâu nay ngự trị thi đàn cảm thấy bị xúc phạm  nặng nề, liền tung ra mấy nhà  thơ kiêm nhà phê bình Búa  Tạ, tả xung  hữu đột.  Anh  bạn tôi phát  hoảng vì biết rằng, những  con chữ thí  nghiệm làm sao  chống lại nổi  buá rìu. Thôi thì "quân  tử phòng thân", một lần nữa  anh đành dang dở với Nàng Thơ.  Nhưng lần này thì  anh ngán thật, anh  quyết bỏ bút để làm Bác  Sĩ tư, một nghề  cũng lương thiện không  kém gì thơ, lại còn hơn cả thơ là kiếm được nhiều tiền để nuôi sống cả nhà.

2. Câu  chuyện chỉ có  thế, lại được  kể bằng cái  giọng tiếu bẩm sinh làm cho mọi người đến... chảy nước mắt. Tôi cứ ngậm ngùi khi nghĩ về thân phận  Người Thơ Dấn Thân luôn bị đe  dọa từ mọi phía bởi các  kiểu phê bình  cuồng tín Ích  Xì, thân yêu  Bà Xã hay sát phạt Búa Tạ.  Đã có một thời đằng  đẳng, thơ ta đã được  "tiêu chuan hóa" trên một  phương pháp sáng tác duy nhất  là phương pháp XHCN, với mục đích duy nhất là phục vụ đám đông quần chúng công nông binh. Văn nghệ  phổ cập, đáp  ứng nhu  cầu  dân trí thấp  là cần thiết, nhưng không chỉ có  phổ cập. Sự nhấn mạnh một nhu  cầu đã bị ngộ nhận như một sự độc tôn đã kìm hãm  sự phát triển phong phú và đa dạng của cả một nền văn nghệ một thời.  Hiện tượng một số nhà văn trong nhóm Nhân Văn  - Giai Phẩm bị  gạt bỏ suốt hơn  ba chục năm dài  đã được phục hồi trở lại là một bằng chứng nhỡn tiền. Phải nói họ cũng là những  bậc tài  danh của  làng  văn,  họ tiến  hành văn  chương bằng chữ chứ  không phải bằng  nghị quyết. May  thay, thời ấu trĩ ấy  đã qua nhờ một  công cuộc Đổi  Mới diễn ra  quyết liệt trên toàn đất nước. Văn nghệ nói chung và thơ nói riêng đang mở ra mọi hướng kiếm tìm. Những tập thơ quan  trọng của Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm... Một nhóm thi  tài của làng thơ cách đây 40 năm lại tự tin tái xuất. Họ tự  tin vì họ tự tìm cho mình lối tới Đền Thơ khá riêng biệt. Họ không  đi theo lối Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn  Bính hay Tố Hữu, bản lĩnh thơ  của họ không bị dàn đồng  ca đám đông  chi phối, còn  họ vào được  Đền hay không lại là chuyện khác. Riêng  tôi, tôi tôn trọng Bản Cách  Dấn Thân của họ, tôi tôn trọng  ngôi Đền lung linh trong tưởng  tượng của họ. Và thời nay, ai đó  muốn làm một Êrôstrat -  kẻ đốt Đền - kể  cũng khó lắm thay!  Công  bằng  mà  nói,  Bóng  Chữ  của  Lê  Đạt  là một thể-nghiệm-chữ, những con chữ phát sóng  hơi xa lạ, nhưng cũng khiến không ít  người nhận bắt  được những rung  động sâu thẳm  của nhà thơ; Bến Lạ, Ô Mai Em của Đặng Đình  Hưng, người thích kẻ không âu cũng là lẽ thường, nhưng rõ ràng là nó chẳng giống ai. Cổng Tình của Trần Dần lại là  một kiếm tìm khác trong loại thể thơ-tiểu-thuyết mà không phải ai chủ  quan múa bút cũng làm được... Và đặc biệt  là tập thơ Về  Kinh Bắc của Hoàng  Cầm sắp sửa ra mắt trọn vẹn  lần thứ nhất, dù nhiều  người đã thuộc lòng nó  từ mấy chục năm trước, khi còn là bản thảo.  Tôi xin được mở ngoặc về tập thơ này một chút: Về Kinh Bắc Hoàng  Cầm viết từ 1959 - 1962 sau vụ Nhân  Văn, năm 1982 Hoàng  hưng muốn in cuốn  này theo một cách nào đó, thế là cả hai ông Hoàng đều lâm nạn. Phòng giam số 18 Hỏa Lò là nơi thi sĩ Hoàng Cầm tá túc vừa được đập phá mà anh bạn nhiếp ảnh của tôi đã kịp thời ghi hình lại được, âu cũng nói lên ít nhiều vui mừng  và chua xót. Năm  1988 tôi định  in Về Kinh  Bắc ở Huế, tác  giả rất mừng,  nhưng chưa kịp  in thì nhận  được điện của Hoàng xin dừng  lại (dưới bức điện ông ký  một chữ Hoàng chứ không dám  ký Hoàng Cầm).  Tất cả các  cửa xuất bản  đều khép lại trước Về Kinh  Bắc. Và hôm nay,  cửa đã mở cho nó  bước vào ngôi Đền thơ ca đầm đìa tính dân tộc  của chúng ta. Sự thay đổi về tư duy phán xét các giá trị văn chương  mở ra, làm giàu cho kho tàng văn chương của  một dân tộc vốn  giàu truyền thống nhân  văn ngày càng phong phú, đa dạng. Và hiện đại dần lên.

3. Điều nói trên  nhắc chúng ta nhớ về một thế  hệ thơ dấn thân khác, đó là  lớp Người Thơ lớn  lên và trưởng thành  trong chiến tranh tàn khốc đầy bom đạn,  chia ly và chết chóc. Có thơ  chống Mỹ, có thơ chống Cộng,  và có cả  thơ tình  yêu  lứa đôi và  thiên nhiên đất nước, và có  cả thơ phản chiến. Nếu  nói thơ ca là sự  phản chiếu lịch sử và khát vọng của nó thì thơ của thế hệ này đã bao chứa cả một giai  đoạn hỗn mang  của lịch sử  với tâm trạng  khao khát yên bình của  cả một dân tộc  suốt cả cuộc chiến  tranh dài. Thơ "Việt Cộng" giàu  hào khí hùng  tráng, hừng hực  một ngọn lửa  chiến đấu mới, nhưng đơn điệu về phương  pháp biểu hiện. Thơ "Saìgòn" có vẻ "phức tạp hơn nhưng nhìn chung sự  kiếm tìm vẫn rơi vào vòng luẩn quẩn trong cái cũ ẩm mốc sướt mướt.  Điều đó thật dễ nhận thấy sau khi cuộc chiến  tranh tàn khốc đã  chấm dứt, chúng ta  đọc lại nhau dưới con mắt chân tâm  của người trong một nước nhằm gom  nhặt lại những giá trị thơ ca còn óng ánh dưới tro than của cuộc chiến lụi tàn. Đã là những giá trị thì đều là tài sản  chung, cả dân tộc cùng nâng niu gìn giữ, không  nên phân biệt con đẻ, con  nuôi, bên này, bên khác. Tất cả đều là con của bà Mẹ  Việt đau thương và độ lượng. Tôi rất đau lòng sau khi chiến tranh chấm  dứt đến vài chục năm mà vẫn có người còn phân chia "Ta - Địch" trong  thơ ca của một giống nòi. Sự phân tuyến "quân ta" - "quân địch", "ta thắng địch thua" ngày nay that ngây thơ kiểu  tư duy trẻ con vẫn  thường làm. Những giá trị  thơ ca chính thực  do chế độ này  mang lại, dù là  phía nào, đều góp  phần xóa đi những  mặc cảm lịch sử  một thời. Hôm nay  chúng ta nhắc tới  vĩ tuyến 17  là để xây  lại cầu Hiền  Lương to đẹp vững chắc hơn chứ đâu nhằm khoét sâu thù hận? Thơ của những người tham chiến dù là  Thanh Thảo, Hữu  Thỉnh, Nguyễn Bắc  Sơn, Du Tử  Lê, Nguyên Sa... thì cũng chỉ còn lại những giọt máu thơ nhân bản mà thôi.

Có người cho rằng thế hệ thơ này vẫn cường-thi-lực trong các thế hệ thơ cùng có mặt hôm  nay, vì sau chiến tranh họ biết  "ăn trả bữa văn hóa", chứ  ít người mắc  chứng bệnh công  thần, bệnh sĩ,  xấu hổ vì phải cắp sách vào  các trường đại học để chuốc lấy  ẩn ức vô học. Cũng đúng thôi. Chình học vấn  đã giúp cho văn hóa viết của họ được nâng cao, không bị tụt hậu  trước thời đại. Nhưng một thế hệ khác trẻ hơn đã xuất hiện. Họ lớn  lên và trưởng thành trong hòa bình, trong một xã  hội mà nền  kinh tế thị  trường lan tràn  từ thành thị tới thôn quê, trong một  thời đại tin học bùng nổ. Họ  tiếp nhận thế giới bằng con mắt tươi non. Và bởi  vậy, thơ của họ "quậy" hơn lớp nhà thơ đàn anh nhiều. Thơ của họ đa kênh, đa hệ lạ lùng, khiến cho chiếc TV  đen trắng độc hệ cổ lỗ phải  lúng túng không sao bắt hết  được. Nhưng họ  biết, họ chính  là thế hệ  chuẩn bị cho những bùng nổ  thi ca vào  đầu thế kỷ  tới. Tuy vậy,  họ cũng biết ngay hôm nay họ chưa là gì cả: "Thà làm lạt buộc còn hơn - làm kèo làm cột tre non sập nhà".

4. Một điều đáng lưu ý trong thơ  hôm nay là hiện tượng xuất hiện thơ sex, thơ tình dục. Chúng ta nhớ lại trước đây vài chục năm, thơ tình (trai gái) bị các cửa  tòa soạn Hà Nội khép kín, đến nỗi thi sĩ của tình  yêu Xuân Diệu có lúc phải thề  là: "Cái việc cần làm ở chỗ kín  người ta lại làm giữa đường, còn  cái việc cần tắm dưới ánh sáng người  ta lại nhốt nó vào  chỗ tối tăm". Tình hình  bây giờ khác hẳn, chúng ta không chỉ in thơ tình đến lạm phát, mà còn in cả thơ sex, thơ tình  dục. Một số người đọc  cảm giác buồn nôn, một số khác cho là lành mạnh, và  một số khác nữa vô cảm. Theo tôi, sở thích là của mỗi người, không nên  vì mình thích ăn chay mà phỉ báng người ăn  thịt cá kiểu  "lươn dài chê  trạch ngắn đuôi".  Câu chuyện sex, tình dục  thời nay chẳng có gì xa  lạ với con người qua  đủ các  loại hình  nghệ thuật.  Ở phương  Đông nổi tiếng gia giáo, lễ giáo, vậy mà truyền hình Đài Loan vẫn có riêng một chương trình về "chuyện ấy". Một sự kiện  lớn đối với văn chương Nhật Bản gần đây là việc phát hiện ra  tập thơ dục tính Những Đêm Của Kômati hay là  Thời Gian Của Ve sầu  gồm 99 bài nói về  99 đêm của cô  gái xinh đẹp  Kômati với thi  sĩ Rubôkô Sô  (980 - 1020): "Một lần nữa, bằng  môi - Tôi chạy dọc theo đùi".  Hóa ra cả chục thế kỷ qua, văn  minh Nhật đã quên mình cũng có  một thi tác tuyệt vời mang tới cho người đọc những xúc  cảm tinh tế, những niềm vui xác thịt của cuộc đời. Và  ngay cả chúng ta, bà chúa thơ Nôm  họ Hồ sẽ còn gì nếu đuổi ra khỏi thơ bà những "Cột nhổ xong rồi lỗ bỏ không", "Xin đừng ngó  ngoáy lỗ  trôn tôi",  và Truyện  Kiều của  thi hào  họ Nguyễn sẽ còn gì là đời thiếu vắng những "nước vỏ lựu, máu máu gà" hoặc "dầy dầy  sẳn đúc một tòa thiên  nhiên"?...Khi sex, tình dục nằm trong  một tổng thể nghệ  thuật hoàn chỉnh thì  nó đồng nghĩa với cái Đẹp, đó là Mỹ Học. Mỹ  Học không phải là một thú bất biến mà vận động  không ngừng. Muốn cảm nhận được  thơ hiện đại cần có một Mỹ Học đổi mới. Tiếc thay, khi tiếp xúc với thơ sex, thơ tình dục vẫn  có người nhìn  nó dưới con  mắt thẩm mỹ  bó hẹp, đã dùng ngón mẹo "điệu hổ ly sơn" tách từng câu thơ ra khỏi tổng thể nghệ thuật để đánh  đòn tùng xẻo, đánh đòn hội  chợ. Tôi thấy kiểu này có gì thật bất nhẫn.
Nhân đây,  tôi xin kể một  chuyện thú vị này:  Buổi sáng nghe nhà thơ Vũ  Quần Phương phê  phán thơ hôm  nay bất nhã  như người mặc quần đùi đi ra đường, thì buổi chiều tôi có dịp đi ra bờ Hồ Gương và ai bất ngờ gặp sáu cô gái xinh đẹp mặc quần soọc jin ngồi trên ba chiếc xe DREAM, để lộ cặp  đùi trắng trẻo khỏe mạnh, phóng như bay trên  đường. Tôi bỗng  thấy Cái Đẹp  mà theo tôi,  Hà Nội xưa chưa từng có. Vậy thì mặc quần đùi  cho đẹp đi ra đường thì có gì là bất nhã đâu?  Chúng ta cần có con mắt nhìn  nhận cái đẹp cởi mở hơn nhiều.

5. Hơn một  lần, tôi nhớ về tháp Ep-phen,  khi được dựng lên bằng hàng nghìn cấu kiện sắt thép vào  cuối thế kỷ XIX, biết bao người tên tuổi  kính trọng lên  tiếng chửi bới  đòi tháo dỡ.  May thay, người ta đã không nhẹ dạ làm theo những kiến nghị điên rồ ấy, và, nó uy  nghi bước vào  thế kỷ XX  với tư cách  là một kỳ  quan thế giới. Với thơ hôm nay, bởi nó  là một nghệ thuật phức tạp và tinh lọc, nên  chúng ta không  nên vội vã  đối xử thô  bạo với nó,  mà trước hết, cần  có một cái nhìn mở, cái  nhìn tôn trọng. Nàng Thơ đâu phải của riêng ai? Khi Nàng  Thơ bị người này hoặc người khác độc quyền  chiếm giữ, thì  các nhà thơ  khác buộc lòng  phải giải nghệ. Bài  học từ người  bác sĩ của  bạn tôi là  một bài học  cay đắng nhỡn tiền. Nhưng khi bị cướp giật về  thơ, anh còn có nghề bác sĩ để lui về, còn các nhà thơ?...

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC