THƠ

Nguyễn Tiến

 

 
 

 

 

TRÍCH DẪN TỪ VỰC THẲM

1

Đứng tấn
Vố búa tạ lòng đất
Túm cổ chai
Vứt xuống thẳm cùng
Tháu cáy

Núi trố
Chờ vực đảo khuynh
Mắt khuyết hãm không lấp đầy
Lỏ rỉ vàng ố
Chiều hoại sắc
Mọc mồng gà sần sượng

Sự vắng mặt đang cựa quậy
Giăng bẫy, ngoạm
Tiếng chim
Đùn mây cánh phượng

Lý lịch buộc thâu hồi
Gõ ngực
Nói nhảm
Người không thể nhận diện vực thẳm
Mà bị vực thẳm nhận diện

Chứng kiến:
Tiếng trẻ khóc sơ sinh
Bên cửa mình trái đất

2

Rượu tuột dốc cuống họng
Lòng reo ấm nước sôi
Cuộc hành trình gấp rút
Không lẽ suốt đời làm phỗng tượng
Đọc mật chú
Cho vực thẳm sống dậy
Bước lên

3

Rơi choảng
Bắn tiếng với hư vô
Chai liệng xuống đáy trũng
Sao miểng dạt lên bờ?

4

Dùng đòn bẫy thời gian
Quật núi đá
Đọc câu trả lời
Trên trang giấy chạy hàng lỗ đục
Cộm ngón tay kẻ mù

 

 

 

HÀNH KHÚC

Đất linh hiển ùn giếng nấc cụt
Nải đeo hàm thiết ngốn chân mây
Quét hất hủi phiến đá bạnh mặt
Trút nghìn thu dộng một cối xay

Điểm huyệt điêu đứng tê miệng lưỡi
Thất thố nỗi quẫy cựa hỗn mang
Vận chuyển oằn đốt lưng ngựa mỏi
Xớ rớ đồng vướng víu bủa ngang

Thâu vén đĩa bát quanh miệng vực
Liệng hòn ngói vỡ ngỏ sang sông
Mùi mũi xuôi tay về hổ cứ
Giã nhân gian, rồi một đoạn đường

Trái tim phình trướng banh lồng ngực
Lồng ngực xoè đôi cánh vọt bay
Vạm vỡ bắt võng choàng ngục thẳm
Lố nhố tiền thân lạnh trở vai

Vết máu bầm, đũng chiều bệnh hoạn
Hốt tàn đốm, thở nén môi sinh
Mỗi đợt sóng trồi làm bục giảng
Ngoắt lửa thiêu gạ gẫm mô hình

 

 

 

HOME