LUỒNG GIÓ MỚI TRONG THƠ

Nguyễn Hoa Tươi

 

 
 

 

 

 

Bất cứ luồng gió mới nào - trong bất cứ lãnh vực gì - cũng đều là vấn đề khó, vì cái mới luôn luôn là cái khó lượng giá. Vì thế, cho nên bất cứ ai đi vào ... cái mới cũng đều nên đi một cách dè dặt, như người đi những bước ngần ngại trên mặt phiến băng mỏng chớm đóng đầu Đông. Chúng tôi cũng không ra ngoài quy  luật đó, và chỉ xin được dám  nhìn vấn đề qua tinh thần đem cái bình tâm vào cái nghiêm trọng, đưa cái tung tăng vào bước đi ngần ngại của sự khai phá.

Xin được trở ngược thời gian và khởi đầu ở mốc định mệnh 30/4/1975. Ngày đó, chúng ta túa ra bốn phương trời để đi về miền đất hứa. Không một ai hướng dẫn ta, không một Mốt-Sờ thời đại nào chẻ nước đại dương cho ta về miền đất hứa, hoặc chỉ cho ta một đích đến, một con đường đi. Lúc đó, tương lai là những chuỗi ngày chìm lẫn vào đám mây mù của vô định. Kẻ sang Mỹ, người trôi dạt vào bờ biển các nước Đông Nam Á, người sang Âu Châu, kẻ trả giá cho Tự Do bằng mạng sống của chính mình. Cùng với dòng người đó, một Cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại và một nền Văn học Hải ngoại hình thành. Tiến trình hình thành đó phản ánh trọn vẹn những cơn co giật về khủng khoảng văn hóa của cả một cộng đồng người loay hoay tự hỏi: Ta là ai? Ta đứng ở đâu? Ta muốn gì?, và Ta sẽ làm gì?

Trong cơn  loay hoay đó, có  Nam Lộc thiết tha  như nói với người tình muôn thủa, "Sài Gòn ơi ta đã mất người  trong cuộc đời." Có Du  Tử Lê, quá khứ không  có chỗ neo, ngày mai không dám giáp mặt:

ta đi, kể hết đời rồi
sống thêm trong nỗi rã rời mà thôi
mộng nào đủ dỗ ta vui
tay chân cũng lạ, tiếng cười cũng chua
ta đi, sống nốt đời thừa
nói năng chi nữa cũng  lừa dối thôi

(Dăm Bài Hát Ru Người Phiêu Bạt, 1977)

Có Trần Mộng Tú, mùa Giáng Sinh năm 1977, bơ vơ giữa ngã ... bẩy của cuộc đời:

Có phải người là trăng
Dẫn tôi về đường cũ
Có phải người là sao
Soi đời tôi lữ thứ


(Đêm Vô Tận, 1977)

Có Đan Quế, tháng 2 năm 1979, sau gần bốn năm ở Mỹ vẫn cảm thấy mất hút trong vô cùng:

Một mảnh hồn côi, một mảnh trời
Mặc cho thân thế lạnh lùng trôi


Phương Trời Lẽo Đẽo, 1979

Có Nguyên Lương "nhìn lại quê hương" qua kỷ niệm chứa đầy vũng nước mưa đêm. Có Trần Mộng Tú, khẩn thiết kêu gọi:

Nhân danh quê hương tôi, nhân danh dân tộc tôi
Tôi thiết tha kêu gọi
Hỡi những người đang rao giảng Nhân Quyền ở phương Tây
Xin hãy về phương Đông
Đốt dùm tôi ngọn đuốc Nhân Quyền

(Nhân Danh, 1979)

Có Hoàng Khởi Phong cúi đầu chiêm nghiệm Ghềnh thác của cha, nơi  ngày xưa, có người, lúc bình thường gò lưng đạp xe đạp kẽo kẹt đi kiếm ăn, nhưng lúc xung trận, hùng tráng dùng tầm vong đánh thực dân Tây. Có Bắc Phong mơ mãi được sống trong một chiến khu ở quê nhà. Có Hoàng Phủ Cương đêm ru tràng AK.

Không khí sinh hoạt văn nghệ lúc đó trụ trong thời gian tâm lý của trước năm 1975, và phản ánh cái tách biệt - tối thiểu về mặt tinh thần – của chúng ta đối với xã hội Mỹ. Hầu hết đều nghĩ đây chỉ là một cuộc dừng chân tạm. Và vì thế chúng ta dựng nên một cái gì tạm bợ. Chúng ta hối hả doing lại những sinh hoạt cũ của SàiGòn trước năm 75 - cả tốt lẫn xấu - để chắn phần nào sự xâm chiếm của cái cảm giác mất hút trong bao la, bơ vơ trong đám đông. Chúng ta in lại những sách cũ, chúng ta hát lại những ca khúc cũ, chúng ta cố trồng các loại rau của quê nhà, chúng ta nấu những món ăn Việt Nam, và rồi cái gì phải đến đã đến, chúng ta xuất cảng sang Mỹ cả lề lối sinh hoạt báo chí cũ lẫn phong thái vận động chính trị cũ.

Lúc  đó, chúng  ta rơi  vào căn  bệnh  "có  nhiêu xài nhiêu, có nhiêu xài hoài". Điều này phản ánh khá rõ qua văn học. Mãi đến lúc gần đây, chúng ta vẫn chỉ dám "tán" - núp dưới dạng phê bình văn học, nếu có thể gọi đó là phê bình - về những gì đã được đãi lọc, đã được công nhận; như "tán" về những bài thơ thời tiền chiến hoặc dịch, cho vài lời "bàn" Mao Tôn Cương về thơ Đường. Chúng ta vẫn chỉ khai thác những đề tài ước lệ cũ. Chúng ta biện luận rằng thì là vì cuống rún sáng tạo đã bị cắt đứt khỏi mạch sữa quê hương nên chúng ta nghèo nàn trong sáng tạo. Trong gần 15 năm, nhạc tính thơ hải ngoại vẫn là nhạc tính cân đối của thơ Đường, êm ả của lục bát và réo rắt của dòng thơ tiền chiến. Trong gần 15 năm, ta trụ trong thời gian tâm lý của trước năm 75 cả về nội dung lẫn hình thức.

Cái cô đơn trên xa lộ không đèn xuyên tiểu bang, cái điên tiết bị giam hãm trong cơn kẹt xe tưởng chừng vô tận trên xa lộ 5 mỗi bận đi làm, cái vẫy vùng kiếm sống và hội nhập xã hội Mỹ, những người Việt Nam ... bị bệnh tâm trí trong các dưỡng trí viện, những đồng bào lây lất trong các trại tị nạn; những người Việt không nhà ngay trên hè phố Mỹ, ...; tất cả các đề tài rất thực trên ít thấy trong thơ, truyện. Ít thấy có nỗ lực phá vỡ ranh giới ràng buộc cũ; ít thấy cái vạm vỡ lao mình khám phá cái mới. Chúng ta uể oải, và cái gì trước mắt chúng ta cũng đều "lình xình". Chúng ta trở nên "siêu  thực". Siêu  lên cái  Thực tại  để bơi lội "thoải mái" trong ... cái cũ.

Tuy nhiên, hình như có luồng gió mới xóa tan đi màn đêm siêu thực đó. Ở trong và ngoài nước, một lớp người mới khẳng định quyết tâm đem đời sống, thực tế và lẽ thật trở lại văn học và chính trị.

Ở ngoài nước, một lớp người mới nói với nhau, "không thể cứ ngồi chờ cho đến khi quý vị đàn anh đồng ý với nhau; hãy cứ để họ ngồi yên ở một xó của vũ đài lịch sử thảo luận về những vấn đề cũ trong cung cách cũ; hãy tiến lên bằng những bước vạm vỡ, gạt phăng tất cả những đổ nát trên mặt bàn quê hương và cùng nhau sắp xếp lại một trật tự mới cho đất nước".

Trong nước, có Nguyễn Thụy Kha, Bùi Chí Vinh khẳng định  bằng sáng tác của mình - Tôi nhổ nước bọt vào những điều lừa mị ... Tôi sẽ làm cho những nhà bác học - thấy mình còn cận thị trước tương lai  ("Tuyên Ngôn Thi", trích trong tạp chí Thơ, số ra mắt mùa Thu 1994). Có TTS, một thuyền nhân ở Hồng Kông bị cưỡng bách hồi hương, đã viết thư ra cho thân hữu ở Mỹ qua ngả Trung Quốc, chế độ này không còn lý do gì để tồn tại, về già nếu chưa đánh đổ được chế độ, tôi sẽ để lại di chúc cho con cháu, thúc chúng làm chuyện đó.

Ở ngoài nước, tiếng thơ không còn thụ động ... lết theo chính trị như trong khoảng thời gian từ 1975 cho đến 1990, mà đã có dấu hiệu cho thấy có sự đổi mới, có sự khai phá đẩy lùi biên giới của ngôn từ; một sự khám phá không đơn lẻ, lạc lõng, mà hình như thoát thai từ một trường phái đang hình thành.

Có Du Tử Lê, luôn bám trụ vào đời sống, làm thơ không biết mệt, sống trọn vẹn và sống thật với chính mình, và không ngừng làm mới ngôn ngữ thơ. Hành trình thơ Du Tử Lê phản ánh cái nhịp của dòng thơ hải ngoại, từ những bước đi chậm rãi và thoải mái lúc ban đầu của thơ-tạo-nhịp trong dòng ... tiền chiến ("Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển"), cho đến cái vùng vẫy muốn vượt thoát ra khỏi những ràng buộc của gánh nặng quá khứ  ("Ở chỗ nhân gian không thể hiểu"), để rồi đổ ào ra biển với tự-do-tìm-thấy:

nên, chiều lên: chia tay chim
vạt cây cấu kết rừng nguyên thủy, nàng
tôi tê, mềm, xuôi, sâu/hoang/
khuya/mây chủ động: qui hàng biển/gương


(Biển, Gương, Seattle)

Có Khế Iêm, với lối buông câu bất chợt xô đẩy âm thanh chạy theo những chiều kích không quy ước, với lối thả ý của một Samurai sau khi đã trụ tấn cả một buổi chiều bỗng vung gươm ra chiêu sát thủ:

hình nộm
(bằng rơm)
dang tay ra

đừng bao giờ hỏi han gì về đời sống nhé

nếu nói không
sẽ biết thế nào là mồi lửa

câm như thóc
Câm

Hoặc:

Từ thuở tuổi tác như đồng nát
Sương khói xây thành trăng mộ bia
Ta uống say khướt nước quẫn bách
Theo gió ra ngoài biên giới kia


(Chái Xưa)

Ở Du Tử Lê và Khế Iêm, nhạc của Thơ là nhạc của Thơ (và không còn là nhạc của nhạc), và tempo của nhạc trong thơ không đến từ ý đồ tạo-vần-nhịp mà là âm vang của  cuộc đối thoại giữa nhà thơ và  đời sống. Nếu thơ của Huy Cận với tay anh em hãy tựa đầu, cho anh nghe nặng trái sầu ruing rơi, đi tự  nhiên vào nhạc-của-nhạc Phạm Duy  với âm thanh của "trái sầu" rơi lóc cóc trong vô thức người nghe; thì nhạc tính trong thơ Du Tử Lê là cái phản ánh của nhạc-đời-sống với tempo phi-tuyến-tính tới-lui-đột-biến-bất-chợt, với những chiều kích không-đoán-định-được của những giọt nước bắn ra từ những cuộn sóng bổ vào ghềnh:

và, chiều cù tôi: chìm, rơi
ai vai/ Bồ tát/ tim: ngồi ghế sau
và, mênh mông. Mênh mông, kia
tháp, chuông: chảy giữa tôi bờ, bãi liên

và, quên. quên. quên. quên. quên.
con sông tự dệt lụa băng giá, gìn
và im. im. im nghe chim
khoắng, đau cánh nhuộm sâu miền hư, tâm
Tôi/Chiều/Sông
Saint Laurent chưa hề chảy trong ký ức nàng,


(Du Tử Lê)

Là âm thanh của đời sống, là những bước gõ trên nền của sự khám phá; là tiếng động của lon bia thuộc không gian vật lý, định mốc cho thời gian tâm lý. Và như một phản hồi chuyển giữa hai không gian: thời-gian-tìm-kiếm-tâm-lý cấu tạo cái dài hơi cho tiếng động của không gian vật lý. Là cái âm thanh độc lập mà trí tưởng muốn nghe, là hồi âm của cái nhìn trừng vào bặt-vô-âm-tín:

tu hơi bia
đá chiến lon ra ngoài

thốc tháo nốt nhạc rời
phân kịch hoang phế

tìm kiếm

cứ mờ mịt mãi rồi cũng có ngày phải sáng tỏ
về thuở khốn cùng
sống ngắc ngoải
cầu bơ cầu bất

lóc cóc

vẫn biệt vô âm tín

(Tìm Kiếm, Khế Iêm)

Vâng, có cái gì mới trong thơ. Mới từ nhạc-của-thơ, mới từ cách dàn trải cấu trúc các mảnh của đời sống, mới từ cái nâng chữ nghiã bình thường của đời sống lên một không gian khác, mới từ cách mời gọi độc giả giao duyên với nhà thơ qua ... thơ. Ở đây, thơ không còn là bữa ăn bày sẵn với chén bạc điã vàng bày biện theo cung cách quý phái xưa, và văng vẳng đằng sau là các khúc nhạc cổ điển; mà là một cấu-trúc-toàn-vẹn-không-toàn-vẹn, với những nhịp dừng để người đọc sáng-tạo-nối-tiếp nốt nhạc đứt ngang, với những khởi  đầu bất ngờ,  chiết mạch thơ  vào đời sống  của người đọc:

và, ngày cù sương: bay lê
nắng thâu phế liệu: em truyền nhiễm, thơ
và, mây cù mưa: trôi, đi
nhìn nhau cửa ngục a tì, bậc môi


(Tôi/Chiều/Sông, Du Tử Lê)

Với những khoảng trống trong thơ mời gọi người đọc phiêu bồng trong một cảnh-giới-không-nơi-bám-víu:

gác mái
con đò không
giả dụ vậy

ẩn dụ lời
đừng đùa bỡn với ký ức

nóng nảy

đã đến lúc phải chôn sống
cả hơi thở

tí tách
giọt cà phê rơi


(Cà Phê, Khế Iêm)

Ở trong nước, có Lê Thu Thủy, vùng vẫy mở chiếu kích thứ tư cho bóng đêm không lối thoát:

Tôi nhỏ tí
như một vì sao lạc
Lũ gián bò
lặng lẽ
đến sờ tôi


(Đêm)

Có Nhật Lệ, xuống tấn nhìn đối thủ một cách e ngại, dồn nội lực, cung tay rồi tự hỏi có nên xuất chiêu:

Tôi thích dùng những động từ mạnh, những hình dung từ treo ngược
chính tôi
Nhưng tôi chưa thấu hiểu
Cái gì mạnh, cái gì đáng sợ treo ngược con người

(Năm Tôi 23 tuổi)

Vâng, có cái gì mới trong Thơ.

Trong khi dòng thơ ở trong nước vẫn còn ngừng ở sự tác vận cụ thể (opération concrète - thuật ngữ của Piaget) thì dòng thơ hải ngoại đã cấu trúc hóa đời sống bằng tác vận trên những tác vận cụ thể (opération sur les opérations concrètes). Do tính rất văn nghệ của ... văn nghệ, xin đừng kỳ vọng một tuyên ngôn văn nghệ sẽ giống một tuyên ngôn chính trị. Ngày Rimbaud lên Paris, danh thiếp văn nghệ của anh là bài thơ "Con Tàu Say"; tuyên  ngôn  của  trường  phái  tiểu  thuyết "siêu thực" là truyện "Nazda" của André Breton; tuyên ngôn của  trường phái thơ phi-phi-thực là tập thơ "Lá  Hoa Cồn" của  Bùi Giáng. Có  cái gì đó  từ "cội nguồn loã thể" cho chúng ta thấy, tuyên-ngôn-thơ hải ngoại đã được ký mã và chỉ còn chờ được ném ra. Gần 20 năm qua, có lẽ đây là lần đầu tiên, tiếng thơ khởi xướng một luồng gió mới,  khơi dậy cái  đam mê "làm  chủ ngôn từ  tức làm chủ thế giới"; lần đầu tiên Thơ giương cao ngọn cờ tiên phong khai phá và đổi mới đích thực. Phải chăng đây là dấu hiệu tốt?

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC