THỬ DỊCH TÙY VIÊN THI THOẠI

Phan Khôi

 

 

 
 

 

 

 

 

Thi thoại là sách nói về chuyện làm thơ. Đại để nó là moat thứ  sách thuộc  về loại  sách phê  bình văn-học.  Trong các sách thi-thoại xưa  của người Tàu  không phải tinh  là phê bình  thơ mà thôi, cũng có bao hàm các chuyện  khác, như là nhắc lại những data sự của  thi-nhân, hoặc nêu  ra những điển-cố  trên văn-đàn; nhưng tóm lại  thì cái tinh-chất phê  bình nhiều hơn, nên  người ta cho vào loại sách phê-bình
Ở bên  Tàu bắt đầu từ  đời Đường đã có  thi-thoại. Rồi kế sau  các đời,  đời nào  trong rừng  văn cũng  sản-xuất những sách thi-thoại rất nhiều. Gần đây như một đời nhà Thanh, kể hết có mấy trăm bộ  thi-thoại. Bộ nào cũng  đặt tên giống nhau:  để tên hiệu tác-giả lên trên, rồi để chữ thi-thoại ở dưới. Như "Tùy-viên Thi- thoại" hay "Vương Ngư-dương Thi-thoại".

Bên Tàu sở  dĩ đời nào cũng có  nhiều sách thi-thoại như vậy là tại đời nào cũng có nhiều người làm thơ. Người làm thơ của họ thì cứ chuyên nghề làm thơ,  cho nên họ làm ra được nhiều lắm, ai nhiều nhất có đến mấy ngàn bài trong một đời mình.

Hễ thơ nhiều  thì tự-nhiên có tài-liệu nhiều  cho nhà làm thi-thoại. Sách  thi-thoại có nhiều  là nhờ những  tài-liệu ấy có nhiều.

Xứ ta  đây, người ta biết  làm thơ chữ hán  từ hồi nhà Lý nhà  Trần. Song  le  từ  đó đến  giờ chưa  hề có   ai làm  một bộ thi-thoại nào bằng chữ hán hết. Ấy là theo như tôi biết. Hoặc giả có bộ nào mà  tôi chưa thấy chăng. Nhưng nếu có  thì cũng chỉ moat hay hai bộ là cùng. Mà có lẽ  không có bộ nào hết; vì nếu có thì tôi tuy chưa thấy chớ cũng nghe, có lẽ nào không nghe trơn?

Trước đây tôi có viết Nam-âm Thi-thoại mà đăng trong Nam- phong, trong Đông-pháp Thời-báo,  trong Phụ-nữ Tân-văn. Nhưng lâu nay tôi không  có thể viết mà đăng tiếp  nữa. Sự thực, trong nước ta phải kể  bộ thi-thoại nầy ra đời  lần thứ nhất, và mới  chỉ có một mình nó  mà thôi. Tôi để tên nó  là Nam-âm Thi-thoại mà không để Chương-Dân  Thi-thoại là vì chỉ  có một mình nó,  không sợ loan với của ai hết.

Xứ ta,  thi-thoại bằng chữ hán  đã không có, mà  còn bằng chữ việt  cũng mồ-côi, ấy chẳng  có cớ gì lạ  hơn là xứ ta  có ít thơ, không đủ tài-liệu cho người muốn làm thi-thoại. Nhiều lần tôi đã phàn-nàn rằng kiếm tài-liệu khó quá. Lâu lắm mới kiếm ra được một bài  thơ đáng truyền hay là luôn với bài thơ ấy có sự-tích gì đáng truyền.  Muốn cho có tài-liệu về mục ấy đủ đăng lấy một kỳ báo, cũng phải kiếm một tháng mới ra. Song lại có khi cả năm kiếm không được một mảnh tài-liệu nào hết, thành ra lâu ngày sanh chán.

Vì  vậy  tôi  có  khi  muốn  dịch  thi-thoại  của  Tàu ra quốc-ngữ. Tôi  biết sự muốn ấy  là vô-lý. Bởi vì,  thi ta với thi tàu tuy  có hơi giống nhau,  nhưng có một đều  khác nhất là những điển-cố dùng trong thi có nhiều cái không thể dịch ra được. Huống chi,  dịch  thi-thoại  thì  phải  dịch  luôn  những bài thơ trong thi-thoại ra.  Mà việc dịch thơ  là một việc tất  cả ai cũng phải kêu là khó, thì mình làm thế  nào được? Thế mhưng vì tôi nghĩ cho thi-thoại là thứ sách ích cho nghề  làm thơ lắm, nên từng đã đánh bạo mà làm.

Mới đây khi rảnh việc, tôi đem dịch thử ít bài trong Tùy- viên Thi-thoại ra. Bộ thi-thoại  này của Viên-Mai, hiệu Tùy-Viên, bộ thi-thoại có tiếng nhất  đời Thanh, nhiều người  đọc và ưa nó lắm. Tôi làm việc này là việc  điên điên ngộ ngộ, xin chớ ai cười và cũng xin chớ ai làm như tôi!

Tôi dịch  thử một tắc  ở cuốn  12,  theo bổn in  thạch-bản, mỗi trang 20 hàng, vào trang 22, như vầy:

Năm Mậu-Dần, tháng hai, tôi (tác giả Viên-Mai tự xưng) qua chơi một cái chùa, thấy trên vách có bài thơ rằng:

Dưới hoa người về, con cái reo,
Vợ già đem rượu thách thơ nghèo.
Nói rằng hôm trước hoa vừa nở,
So với năm kia nhánh lại nhiều.
Hương sắc ban đêm nhìn vẫn đẹp,
Gió mưa cơn sáng chịu làm sao!
Phải chi về sớm ba ngày trước,
Hàm tiếu, coi còn thích biết bao!

Dưới bài  thơ, ghi cái đề  là: "Cùng vợ nhà  ngắm hoa mẫu đơn", chớ không có tên họ gì cả.

Có kẻ chê  bài thơ này dối dá,  làm qua loa cho rồi  bài, chớ không hay  ho chi. Tôi  nói rằng: Tuy  vậy mà cả  bài lộ cái tánh linh ra, e  là tay hay thơ lắm  mới làm nổi, chớ đừng  nói... Rồi tôi chép lấy và gặp ai cũng hỏi, mà chẳng có ai biết hết.

Cách hai năm có quan Thái-thú Vương-Mạnh-Đình đến ngắm mẫu đơn. Nhơn đó tôi nói đến bài thơ  này. Nhờ quan Vương Thái-thú tôi mới biết là của ông  Cố-Dữ-Trị, một bậc di lão  thời quốc-sơ đã làm. Khi ấy tôi mới tự phụ là mình có con mắt!

Vương Thái-thú nhơn nói cùng  tôi rằng: Các bậc  tiền-bối thời quốc-sơ, không  chịu ra làm quan, ở  nhà với vợ già, hôm  sớm đối nhau, thường nẩy  ra được những bài thơ thanh diệu.  Rồi ngài đọc luôn bài "Chúc thọ vợ nhà" của ông Ngô-Giã-nhân cho tôi nghe rằng:

Vất vả vườn quê hai chục thu,
Ra tay rau cháo đỡ đần nhau.
Ngày không giờ rảnh hòng soi kiếng,
Năm mất mùa luôn đến bạc đầu.
Én liệng cửa ngoài hơi biển lạnh;
Nhà như xuồng nhỏ bóng khe chao.
Chúc mình mà tớ không mua rượu,
Vẫn cứ chia tay: mẹ nó nào!

Tôi ngâm đi ngâm lại bài này, thấy lại còn có phong phú hơn bài trên nữa.

Đó, công việc tôi đã làm trong năm đêm trường mà chỉ như vậy đó. Làm xong, tôi bắt ngán: nếu muốn dịch cho xong bộ Tùy-viên Thi- thoại, phải  chịu mất thì  giờ ba bốn  chục năm là  ít. Cũng chưa chắc là dịch ra  được hết. Mà dịch được hết, phỏng có ích gì cho  văn học ta chăng? Nghĩ như thế rồi tôi không làm nữa.

Trong độc giả,  ông nào thích thơ chữ hán,  xin mở bộ Tùy-viên Thi-thoại, theo như số trang như tôi chỉ trên kia mà xem, chắc là ông ấy cũng phải nhìn công khó cho tôi, chớ không đến nỗi sổ toẹt.

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC