THƠ HẬU CHIẾN - NGỘT NGẠT VÀ HÉ MỞ

Nguyễn Trọng Tạo

 

 
 

 

 

 

Đến cơ  quan, tới quầy  báo, trở về  nhà... mở báo  mở sách ra là thấy Thơ  xếp hàng ngang,  sắp hàng dọc,  quây vòng tròn  bao vây mình. Đấy  là Thơ đã được  in từ công nghiệp  in ti-pô đến ốp-set điện tử. Còn  thơ đang trên bản thảo thì  chắc hẳn phải nhiều gấp mấy chục lần. Tôi làm biên tập  thơ cho một tờ tạp chí địa phương và một  hội văn nghệ địa  phương thôi mà mỗi  tháng cũng phải đọc tới vài ba  trăm bài thơ anh em  gửi tới. Đấy là chưa  kể lắm khi gặp gỡ, có  tác giả tranh thủ "xuất bản  miệng" bán không cho cả chục bài một lúc. Tôi đã từng  thú vị câu thơ của Voznêxenxki "Em sẽ được mặc toàn bằng Thơ hai  mươi bốn giờ ngày", vậy mà đến hôm nay tôi  bỗng thấy hoảng sợ  trước câu thơ tuyệt  diệu ấy, bởi vì không chỉ mặc mà còn phải tiêu  hóa và thở bằng Thơ nữa. Chao ôi, ngột ngạt dễ đến nổ tung.

Sự ngột  ngạt bởi số lượng  thơ theo kiểu "lấy  thịt đè người" kể cũng chưa  phải đáng sợ  bậc nhất.  Ta  có thể thoát  khỏi nó dễ thôi. Không đọc  là xong. Nhưng khốn nỗi, thơ  lại là một nhu cầu không thể thiếu của con người như người ta thường nói, nó như một bộ phận quan trọng để cấy thành con người vậy, Chả lẽ mình chỉ là một con-người-thiếu? Cái nhu cầu muốn làm người-hoàn-thiện đẩy ta vào cái  biển Thơ hiện tại  mông lung, không còn  biết đâu là bờ bến. Thơ tình yêu, Thơ tình dục, Thơ tụng ca, Thơ chống tiêu cực, Thơ tự thú,  Thơ bông phèng, Thơ buồn nôn...  Thôi thì đủ loại Thơ tạp-pí-lù. Thơ  giống một tấm  ảnh loạn sáng  được phóng đại  khó nhận ra được ra được hình ảnh  thật của nó. Nếu cặp mắt không còn khả năng  vô nhiễm thì  chả mấy chốc  người ta sẽ  mắc phải chứng loạn thị. Người đọc  Thơ thời nay quả là bị hành  hạ không thương tiếc, ấy là vì  sự xuất bản Thơ bung  ra quá trớn. Tác giả  bỏ tiền mua giấy phép, nạp nhà in, tự bán  lấy Thơ hoặc cho không biếu không, nghĩa là tự lo  từ A đến Z, miễn  là "Thơ được in", còn  hay dở, yêu ghét thì đã có "tác giả chịu trận" chứ  can cớ chi ai. Mà tôi dám chắc cứ trăm  người làm thơ  thì chín mươi  chín người sẵn  sàng "chịu trận", miễn  là thơ mình được  công bố cho bàn  dân thiên hạ; thậm chí không ít người còn cầu mong cho Thơ mình được báo chí lên án để nhanh chóng nổi tiếng  theo kiểu Êrôxtrat! Cũng là  nổi tiếng, chứ sao. Đã có máu  in thơ, mấy ai lại  không thích nổi tiếng? Còn  in Thơ để "chơi" cho vui thì xin lỗi, đấy  chỉ là sự ngụy biện giả dối; chả lẽ tự chép lấy  một bản cho đúng chính tả lại  chẳng "chơi" được hay sao? Cũng  chính vì thế mà  Thơ làng nhàng èo  uột, Thơ bê-đê lại cái in ấn  tràn lan làm ô nhiễm  thẩm mỹ, phá vở môi  trường sinh thái của Thơ. Nhưng vấn đề cơ bản  hơn chính là ở sự ngộ nhận thi sĩ cùng  với sự lúng  túng thiếu bản  lĩnh của người  làm thơ trước  những lượng thông  tin đậm đặc  về những thành  tựu Thơ ca  cổ kim của nhân loại trước sự  bùng nổ thông tin thế  giới nói chung và trong  nước nói riêng.

Sự ngô nhận thi sĩ không đồng nghĩa với sự tự say mê tài năng mà đấy là một giấc mơ phù phiếm thấy mình trở thành thi sĩ cho đến khi tỉnh dậy trên  giường vẫn ngỡ  mình đang ngự  trên ngai vàng  của vương quốc Thơ. Đấy  là giấc mơ đồng nát  hóa vàng ròng. Và thế  là anh bắt đầu trở  thành nhà sản xuất đồng nát,  nó cũng vàng lấp lánh, nó cũng có thể làm nên bao nhiêu đồ trang sức. Thơ mất thiêng khi xuất hiện  sự ngộ nhận về  nó. Và lúc đó,  người ta đến với  Thơ đầy nghi ngờ như  bước vào chợ Trời đầy rẫy  hàng giả như thật. Nhưng những người ngộ nhận  thi sĩ thì cũng đáng thương thay  , anh đang tiêu bạc giả mà anh nào hay biết! Ngẫm cho cùng, dù sao ta cũng còn có thể cảm thông với  những kẻ bị giấc mơ lừa phỉnh.  Còn những người làm thơ thiếu bản  lĩnh thì sao? Họ  chạy đi chạy lại  nhớn nhác theo các trường lực thi ca cuốn hút. Lúc thì họ bắt chước Nguyễn Bính, khi thì họ  học theo Hàn Mặc  Tử. Lại thấy Thơ  làm chưa ráo mực  đã cũ mèm, lại phá mở  theo kiểu thơ Tây cho có vẻ  hiện đại. Nhưng thấy nó ngọng nghịu thế nào, tức điên  lên học kiểu Thơ lính chiến cao bồi văng  thề chửi tục, đời  này biết đâu khối  người khoái trá. Rốt cuộc là thơ họ  giống tất cả, trừ không giống bản  thân mình. Họ làm cho trường Thơ  nhiễu loạn, biến Thơ thành những  lời ca mới phổ vào các làn điệu có sẵn. (Riêng điểm này thì các nhà soạn lời mới cho các làn điệu dân  ca cao giá hơn nhiều). Đấy là  chưa nói vẫn còn không ít những người làm thơ luôn giành cho mình độc quyền "xem thời tiết" để viết  đơn trước cho  báo này báo  nọ, tuần chay  nào cũng có nước mắt, như những kẻ mánh mung, đánh  quả mà quên mất rằng họ đang đánh quả chính mình: nay ca ngợi Thạch Sanh, mai xưng tụng Lý Thông.

Lại nữa, sự xuất hiện các "nhà  phê bình" thực dụng, khen chê Thơ với những dụng ý ngoài văn học. Có người được thuê khen bốc trời, chê thô bạo, nhằm câu sự  tò mò của độc giả để bán Thơ.  Có những tập Thơ mà tên tác giả chưa hề xuất hiện trên  báo chí một lần, vẫn có ba bốn lời giới  thiệu hoa hoè, hoa  sói in kèm theo  cho cuốn sách thêm phần "sáng giá". Lại có những người  nhân danh "bạn đọc" lạm bàn về Thơ mà không hề hiểu biết tí gì về nghệ thuật Thơ, họ qui chụp chính trị cho Thơ một cách thô bạo, tiêm  nhiễm bệnh suy diễn méo mó lây lan sang một số đông người đọc thiếu bản lĩnh. (Những người này lại thường giấu mặt, giấu tên  như những kẻ ném đá  giấu tay, bộc lộ sự  thiếu trong sáng của người  phê bình). Dĩ nhiên là  trước không khí tranh luận  tự do, dân chủ hiện nay ý kiến của họ được công bố trên báo, bình đẳng với các ý kiến trái ngược. Điều đáng  nói là thái độ công bằng và cẩn trọng của người  phê bình, phải biết giữ lấy  mầm giống tốt khi diệt trừ cỏ dại,  giữ lấy đứa trẻ khi  đổ đi chậu nước tắm  như Mác đã nói. Hơn nữa, như chúng ta đều  biết, việc thưởng thức Thơ ca là heat sức phức tạp, đặc biệt là đối với loại Thơ không đi theo các lối moon quen thuộc. Câu  chuyện câu thơ "Chiếc quần xà  lỏn ấm" của Nadim Hitmet bị người bạn Thơ dịch thành  "Chiếc quần bó thể thao làm bằng nỉ mỏng" là  vì vậy. Sự tìm kiếm  cái mới (đưa vào Thơ  những từ ngữ đời thường) của Nadim Hitmet đã bị người bạn "nắn" trở về cái cũ (từ ngữ phải nhã, phải đẹp) mà không hề hay biết. Và anh ta cũng quean mất rằng, tác giả của nó đâu  phải người làm xiếc mà mặc quần bó, tác giả  ở trong tù chân  bị tê thấp, có  cái quần xà lỏn  hẳn dễ chịu hơn. Tuy  nhiên đối với các "nhà phê  bình" kiểu này, Thơ ca với giá  trị đích thực  của nó sẽ  tự vượt lên,  tồn taị theo qui luật riêng của nghệ thuật. Tháp Ep-phen dựng cuối thế kỷ 19 bị bao người chê bai đòi lật đổ, nó lại là kỳ quan của thế kỳ 20!

Trong quá  trình đổi mới  của mỗi giai  đoạn văn học,  Thơ vẫn thường đóng vai trò tiên phong. Nó  là một loại hình nhạy bén bậc nhất, nắm bắt và  dự báo sự chuyển biến mạnh mẽ  của thời đại. Có người coi Thơ như người lính xung kíck của đạo quân văn học là vì vậy. Nhưng cũng chính vì vai trò  xung kíck, tiên phong ấy nên số phận  của Thơ  không chỉ  có vinh  quang, mà  nhiều khi phải chịu nhiều cay đắng. Trong lịch sử Thơ ca, nhiều nhà thơ, bài thơ phải trả giá đắt  trên con đường tìm kiếm những  giá trị mới của mình. Cách đây 136 năm,  tập thơ Lá Cỏ của nhà thơ  Mỹ Oan Uytman trước khi được toàn  thế giới hâm mộ đã  từng bị coi là "một  cuốn sách bất lịch  sự", và tác  giả của nó  liền bị viên  Bộ trưởng Nội vụ đuổi ra khỏi cơ quan nhà nước. Đấy  là ở Mỹ. Còn ở ta? Không phải không có những sự kiện tương tự  như vậy. Tập thơ Cửa Mở của Việt Phương ngót hai mươi  năm trước vừa cất lên một tiếng  Thơ mới lạ lập tức bị chối từ, bị lên án gay  gắt. Cho mãi tới công cuộc đổi mới hôm nay, giá trị  mới mẻ của nó mới được đánh  giá lại. Quả là việc tiếp nhận sự cách  tân cả nội dung lẫn hình thức  của Thơ không phải là chuyện dễ dàng, đơn giản.

Sự "bung ra" của Thơ ta những năm gần  đây như đã nói ở trên là ồ ạt đến ngột ngạt, nó  khiến người đọc nghi ngờ Thơ, thờ  ơ với Thơ, coi thường Thơ, hoặc kinh hãi Thơ là hoàn toàn có thật. Nhưng, tất cả cũng không  hoàn toàn như  vậy. Sự trả  giá đắt của  thơ ca thời hậu chiến không phải là  không có ý nghĩa tích cực của  nó. Ý niệm Dân chủ và Đổi mới được  đề cao trước xã hội ngày nay cho  dù lắm lúc bị nhiễu loạn nhưng  luôn là mục tiêu  cho những ăng-ten nhạy  cảm của thi sĩ thực sự hướng  tới. Thơ đang âm ỉ  chuyển biến về chất. Đã  có những trang Thơ "khác trước" xuất hiện trên báo chí, tách ra khỏi những giọng Thơ quen thuộc lâu nay. Đã có những  tập thơ không chỉ nói tới niềm vui mà còn bộc  lộ cả những nỗi  buồn sâu sắc của  con người với sự  tìm tòi khác lạ  về hình thức  diễn đạt. Vậy  là bên cạnh  những tác giả vẫn viết theo quán  tính của cái cũ, đã  có những cây bút hăm  hở đi tìm cái mới. Tuy chưa tạo được sự bùng  nổ mạnh mẽ của những tư tưởng lớn, nhưng Thơ hậu chiến của ta đã thực sự khởi sắc, nó đã dám công bố những bí mật của  con người cá thể và tìm cách  vượt khỏi khuôn khổ của một lời  tự thú. Mà nói  như Yanit Ritxôt là:  "Thơ vuợt qua khuôn khổ của một  lời tự thú riêng của  nhà thơ, nó trở thành  đại diện cho tất cả mọi  người về chính nghĩa, hạnh phúc và  tự do." Chính vì vậy, tôi không hề  có ý nghĩ là Thơ ta đang đi  vào ngõ cụt, mà tin chắc rằng, nó  đang đi tới sự bùng  nổ, nó đang tìm cách  để vượt qua bức tường mà thành tựu của Thơ ca trước đây đã xây nên.

Nếu Thơ ca luôn luôn thỏa hiệp  với thành tựu của quá khứ cũng có nghĩa là nó không có gì để tồn  tại. Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, tìm kiếm  và khai phá cái mới. Một  Nguyễn Huy Thiệp, một Phạm Thị Hoài, một  Nguyễn Quang Lập, một Bảo Ninh  trước lãnh vực văn xuôi đã làm thay  đổi tư duy của không  ít người đọc, người viết  trước những năm gần đây. Rồi còn tốn  nhiều giấy bút về những nhà văn  này. Về Thơ, cũng đã thấy khởi lên  những dòng thơ khác biệt, đầy hi  vọng. Những giọng thơ nữ ngày càng trưởng thành với những tìm tòi táo bạo giàu nữ tính như Ý Nhi, Lâm thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây... Những nhà thơ trẻ của thời chiến tranh như  Nguyễn Duy, Thanh  Thảo, Hữu Thỉnh,  Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mạnh Hảo...  vẫn còn gây được những tiếng  vang vào đầu thập niên 80  này,  báo  hiệu  một  dòng  chảy  mới  của  thơ hậu chiến: Thơ xã-hội-đời-thường, loại trừ lối tư  duy thần tượng giáo điều cùng lối ca mòn sáo, bên cạnh những dòng thơ được chú ý trước đấy đang trở về  sự ổn định: Xuân  Quỳnh, Thu Bồn, Bằng  Việt, Phạm Tiến Duật, Thanh Tùng,  Thạch Quỳ, Nguyễn Khoa Điềm...  trước rừng người làm thơ ì ạch sau 1975 có người đã bứt lên thành tác giả như Nguyễn Thụy Kha, Bùi Chí Vinh với "Tuyên ngôn Thi" đầy táo bạo bất ngờ: "Bằng sáng tác của mình - Tôi nhổ nước bọt vào những điều lừa mị... Tôi sẽ làm cho những nhà  bác học - thấy mình còn cận  thị trước tương lai"; Như Nguyễn Khắc Thạch  với Cảm-thức Thơ giữa "Thế kỷ  may đo cúi chào nền may sẵn  - những số phận đầu  thai ống nghiệm - những  rô-bốt bê-đê ngẫu hứng làm tình"; như đôi ba  người đây đó vẫn làm ta ngạc nhiên, kính nể. Người với lối nói lộng  ngôn, thâm thúy, người với giọng thơ dồn nén, quyết liệt, cách nói tuy khác nhau nhưng họ giống nhau ở chỗ là không vòng  vo tam quốc, tấn công không khoan  nhượng trước cái xấu xa bỉ ổi, cảnh tỉnh sai lầm u  mê của con người quyền lực có nguy cơ đưa xã hội đến sụp đổ bại vong.  Thơ của họ thường làm cho kẻ cơ hội, kẻ xấu giật  mình sờ gáy (hoặc thù ghét), và  những người có long tri thì lặng người  suy ngẫm. Đặc biệt là sự xuất  hiện gần đây, Thơ của một lớp người thực sự trẻ, trên dưới 20 tuổi. So với mấy chục name qua thì đây là  hiện tượng lạ. Nhưng lạ hơn lại  chính là Thơ của họ, những bài  Thơ tình yêu, cuộc đời với những  quan niệm sống phóng khoáng, hiện đại.  Họ chưa thành tác giả, nhưng  gộp họ lại là cả một sự mới lạ  khác thường. Thơ của họ thường chứa  đựng đầy ắp những trăn trở của tuổi trẻ trước biến động khôn lường của xã hội. Đọc họ, thấy cả sự tin yêu lẫn chán chường, trinh bạch bên cạnh xác thịt, cao siêu chứa đựng cả bỉ ổi tởm  lợm. Họ khiến ta vừa hy vọng vừa lo lắng...  Nếu như Hàn  Mặc Tử cho  rằng, Thơ là  chứa đựng những hình ảnh  của Thế-Gian này hay  cả một cõi Xuất-Thế-Gian  nào nữa, thì  ở  Thơ  của  lớp  người  này,  tôi  thấy  còn  cả hình ảnh của một Phản-Thế-Gian hiện  hữu. Phải chăng đấy  chính là dấu hiệu  hé mở của Thơ hậu chiến?

Dù sao thì trước bầu không khí ngột  ngạt của sự lạm phát Thơ đến mức báo động như hiện nay, sự hé mở dù ít dù nhiều của những giá trị mới mẻ vẫn là sợi  dây tơ níu kéo người đọc lại với  Thơ. Bởi vì núi ấy có vàng nên vẫn còn người tìm vàng.  Người đọc Thơ nhiều khi còn có đức tính kiên  nhẫn của người  tìm vàng vậy.  Đãi cát tìm  vàng thì cũng chẳng có  gì là lạ. Còn  các thi sĩ? Cũng  xin các thi sĩ  không nên chơi mãi  bài lì, coi  người đọc như  là những vật  thí nghiệm cho Thơ mình, mà nên tôn trọng nhau một cách bình đẳng như Đấng Chí Tôn đã từng sáng tạo ra ba loài cùng đáng được tôn trọng: Thiên thần, loài Người và loài Thi sĩ...

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC