THI CA, MẤY ĐIỀU TẢN MẠN

Nguyễn Tiến

 

 
 

 

 

 

1.

Chính chất lân  tinh của ngôn ngữ gộp chung  cảm hứng cùng ý thức sáng tạo đã  làm rực sáng thế giới đồng  lượt: Cảm hứng soi chiếutri thức. Tri thức soi chiếu ngôn ngữ. Ngôn ngữ soi chiếu thi ca.Thi ca soi chiếu thế giới. Trong lẫn ngoài.

Thứ lý luận liên hoàn, sausage trên khơi tỏ một điều: Thi ca, một tự thể chiếm vị thế trong tiến trình thăng hoa đời sống, một phạm trù chi phối mọi bộ môn nghệ thuật  khác: Âm nhạc là thi ca bằng giai điệu; hội  họa là thi  ca bằng  đường  nét: Tất cả  gánh nhiệm vụ chung phục  vụ giai tính  (cái đẹp). Nói  dai thêm chút  nữa: Mặt trời phát ra ánh  sáng khi bóng tối đã phục sẵn;  bóng tối, một tự thể độc lập, từ uyên nguyên. Sự mầu nhiệm vô cớ hay sự phi lý của vạn hữu đẩy thi ca ra đời.

2.

Nhu cầu thi  ca có trước nhu cầu triết  lý. Empédocle, Socrate đã từng làm thơ trước khi đặt  vấn nạn triết học. Như thơ Holderlin, G. Trakl có trước triết lý Heidegger. Đổi chác có trước bán buôn. Khúc hát hồn nhiên có trước bài diễn văn trịnh trọng.

Đời sống  hai mặt như  kiếng hai tròng:  Khi nhìn gần  thì không thể nhìn xa. Và ngược lại. không phải  ánh sáng mà bóng tối, thi ca xuất hiện cùng  thời với bóng tối  khi bóng tối còn  đồng hóa với niềm câm lặng. Vẻ đẹp của bóng tối, của câm lặng tự thân đã là thi ca. Nhưng thi ca muốn đẩy xa hơn  nữa, kêu đòi người làm thơ, bắt câm lặng bật thành tiếng nói, bắt  bóng tối trở thành ánh sáng. Nên mặt trời mọc giữa đêm.

3.

Mâu thuẫn là nét  thực của đời sống, của thi ca.  Không thể dùng thư lý luận hình thức kiểu Aristote  để biện giải đời sống. Bình minh của thơ, nói  như Khế Iêm, là hoạt  động chống mọi lề thói  mà kỹ thuật cũng là thứ lề thói. Nói cách khác, phương cách duy nhất để biện  giải đời  sống là  vô phương  cách, nghĩa  là chấp nhận mâu thuẫn. Và kỹ  thuật duy nhất của thơ là  vô kỹ thuật. Bằng chứng, nền thi ca Đức tạo một lịch sử huy hoàng về thơ tự do, không vần điệu qua Goethe, Holderlin, Novalis, Heine, Morike, Rilk .v.v...

4.

Thử đọc  André Breton, một  trong những tay  chủ xướng thơ  siêu thực Pháp, hai câu thơ nghịch thường:

Je tà la face des mers
Rouge comme lquand il est vert

(Tạm dịch: Ta yêu em trước mặt biển cả
Đỏ như quả trứng khi xanh)

Sự nghịch thường  của ngôn ngữ đòi hỏi cấp  độ thưởng ngoạn, thẩm mỹ cao. Hiểu thơ là hoá giải  thơ, buộc kẻ thưởng ngoạn đứng trên chiếc chòi  toàn cảnh, nhìn xuống  đời sống cho thấy  rõ từng chi tiết (như nhân vật người hùng bay vượt lên để nhìn xuống lại trái đất  trong  tác  phẩm  "Wonderful  adventures  of  Nils của bà Selma Lagerlof mà C. Milosz từng đề  cập, tương tự như nhân vật Cosimo, chàng bá tước sống trên cây của Italo Calvino).

5.

Ngôn ngữ là  huyền thoại. Huyền thoại là thi  ca. Thoạt tiên nghệ thuật mô  phỏng đời sống. Kế  đến, đời sống mô  phỏng nghệ thuật. Thoạt tiên, nghệ thuật vị nhân sinh. Cuối cùng, nhân sinh vị nghệ thuật. Không có chuyện đời sống ràng buộc thi ca mà thi ca ràng buộc đời sống, mở đường cho tâm tư  nhân loại. Là kẻ tân tòng theo chủ nghĩa sáng tạo tự  do vô hạn lượng, vô chính phủ,  thi ca tự buộc mình đi tìm chiều kích mới, cho  dù thơ sẽ như cánh hoa vứt xuống hố thẳm  mà Octavia Paz đã  ngậm ngùi nói tới.  Thơ không nhất thiết đòi hỏi tiết điệu  nhịp nhàng, âm vận mà đòi hỏi  ý thức rực sáng về đời  sống và sứ mệnh  thiêng liêng, vô hình  trước thời đại. Ý thức tự nó đã  mang sẵn giai kết (cadence) và không  cần trợ lực bởi một nguyên tắc hoà âm nào cả.  Thi sĩ trần thiết thế giới, làm đám cưới song hôn với đời sống và nền thẩm mỹ mới đang được vun xới, dù phải đảo lộn vai trò cơ phận  (organ) của năm giác quan. Như Paul Valéry: "La  voix intérieure est une  oreille qui parle. Entendre parle. La conscience est une bouche qui écoute. Parler écoute."

Trong bài nhận định  về hội họa đăng trong tạp chí  Sáng tạo trước đây, Thái Tuấn  cũng đã có  lối nhìn thẩm  mỹ đúng mức:  "Chiếc ghế trong tranh không phải là chiếc ghế để  ngồi", nó đã chễm chệ trở thành moat hình tượng nghệ  thuật với tính bi tráng của  sự nhẫn nhục, chẳng hạn. Thi sĩ,  kẻ đẩy thuyền ra khơi  mong khám phá một bến  bờ mới lạ, một chân trời chưa từng quen biết (unknown), chưa từng thố lộ, hoặc theo kiểu nói R. Char, nguồn lệ mới (de nouvelles larmes).

Sự trưởng thành  của thi sĩ như của người  thưởng ngoạn không phải đo bằng năm tháng tuổi tác mà bằng sự thức tỉnh. Sự trưởng thành của thi ca là sự  thức tỉnh của thi ca biết đành  đoạn với quá khứ mà làm một bước nhảy (quantum leap).  Phù hợp với lịch trình tiến hóa sinh vật trên trái đất, sau  bốn chân là hai chân (homo erectus), sau nhảy là bay. Và thi sĩ mọc cánh.

6.

Chính thời  gian bóc dở  vị trí không  gian, nghệ thuật  Việt Nam không trói chân trên lãnh thổ địa dư mà phá vỡ biên giới nhập vào giòng nghệ thuật  chung toàn cầu. Nặng  lòng với quá khứ,  tự mãn dân tộc là những  thái độ cần phải khai  trừ. Nói thế không có  nghĩa vô ơn bội nghĩa phủ  chối gia sản tinh thần  mà kẻ đi sau là  người thụ hưởng. Không thể dứt bỏ truyền thống như không thể cầm con dao chặt đứt một giòng sông. Ai dám phủ nhận tinh thần Hy lạp bàng bạc khắp cõi thơ Sappho thời xưa, trước kỷ  nguyên Thiên chúa trên 600 năm, đã ảnh hưởng  đậm đến E. Pound  thời nay, như Shelley,  W. Blake ảnh hưởng đến Yeats;  M. de Sade ảnh hưởng đến  A. Breton; A. Breton, đến Octavio Paz; Beaudelaire, Verlaine, đến G. Trakl .v.v...

7.

Người làm thơ  hôm nay không những thừa  hưởng gia sản dân tộc  mình mà của cả thế giới. Thi ca Việt, thi  ca thế giới là một tổng thể bất khả phân ly.

Phong trào phát triển thơ hài cú du nhập từ Nhật bản đã diễn tiến suôn sẻ từ bao thập niên qua ở các quốc gia Mỹ, Anh, Đức.v.v... Sự trạng E.E. Cummings,  tiếp đến là E. Pound  đã "cutting edge" thi ca làm nó trở nên huê dạng, sẽ đánh mất ngạc nhiên khi bắt gặp những bài thơ tắm đẫm thiền vị của một T.S. Eliot, Borges, Gary Sneider, nhất là O. Paz mà bài diễn văn  của ông đọc khi nhận giải Nobel đã minh nhiên.

Mỗi thời đại,  mỗi thái độ sống, mỗi phong  cách nhìn. Trong lịch sử thi ca, đã  có lắm những manifesto, credo tỏ  rõ lập trường thay đổi tận gốc rễ tác  năng thi ca với điều kiện văn  minh, sử tính nhất định. Thử kể  tên các trào lưu thi  ca thế giới, từ trào  lưu ánh sáng,  trào lưu  thẩm mỹ,  trào lưu  phi lý,  đến hiện thực, siêu thực,  ngày mai,  thú tội  (confessionism), cụ  thể (concretism), hiện đại (modernism).v.v...  mỗi trào lưu mang mỗi  khuynh hướng cách tân, búa vỡ thủ cựu, nói cách  mạnh bạo hơn, ném tạc đạn cho bung nổ phần kiến trúc thượng tầng; mỗi trào lưu là phương tiện nhằm đạt tới kỳ cùng  bản sắc đời sống, tham vọng hơn  nữa, bản sắc vũ trụ. Nhưng,  phương tiện không phải  là cứu cánh; cửa  sổ không phải là bầu trời. Chấp chặt phương tiện mà  bỏ rơi cứu cánh là hiện tượngvong thân (alinéation) trong thi ca. Bằng mọi giá, người làm thơ vẫn phải lâm bồn  một thế giới mới, dù  phải cho ra đời những  đứa con dị dạng. Không thể có nhà phê bình thẩm định thi ca, mà chính thi ca tự thẩm định nó, qua thời gian, như  ngọc lên nước, điều mà Chân Phương gọi là "esprit de temps".

8.

Công trình thi ca không bao giờ  là công trình đã đóng, đã hoàn tất. Thi sĩ chưa từng hưu trí với  đời sống trước mặt. Những giòng thơ sẽ qua đi nhưng thi ca ở lại. Thi ca vĩnh viễn ở lại cùng đời sống.

Nghệ thuật, nói  như Thanh Tâm Tuyền, lại là  vận động biện chứng của hủy diệt và sáng tạo.

Thi ca trữ kim cho nghệ thuật khỏi bị phá giá (dévalué).

9.

Mọi công trình nghệ thuật, trong đó có thi ca, vạch khả năng giữa điều có thể  và điều không  thể thể hiện,  vô hình chung,  cũng được coi là kiểu mẫu  một tri thức  luận (épistémologie). Cùng  một đề tài  con nhện, từ  Edward Taylor (1645  - 1729) đến  Walt Whitman (1819 -1892), Robert  Frost (1874 - 1963).v.v..,  mỗi ông mang mối  xúc cảm, lăng  kính khác  biệt. Cùng  một đề  tài chim  phượng hoàng,  Ilyn Abumadi  (1890  -  1957),   L.  Ferlinghetti  (thuộc  phong  trào Beat).v.v... mỗi ông đẩy riêng ý tưởng chuyển động tự do, phiếm định, vượt khỏi tính  chất huyền  thoại ban  đầu. Nhất  phiến nguyệt lưỡng nhân tâm. Thi  ca, nói như  Allen Ginsberg, do  thi sĩ dệt  ra, chứ không phải do thiên hạ  đặt hàng. Thi ca, nói như René  Char, là cái trong trắng hồn  nhiên bên kia giòng  chữ đã nhuốm bẩn  mực. Cái ở bean kia đó là khối dục vọng khôn  nguôi kết tinh thành nghệ thuật như một toàn thể.

Thi sĩ làm  thơ, hiện hữu sau thơ, nhưng  người đọc chưa bao giờ thực sự hiện hữu. Hắn đề thơ  bên mặt bóng tối và người đọc, từng thời, mãi  lật nó ra  mặt ánh sáng.  Hắn khóa trái  cánh cửa thế giới và người  đọc phải biết dùng nội lực  đột nhập bằng cách thế nào đó.  Mượn cách nói  của A. Camus,  trong "Lrévolté",  thơ "tối tăm một cách sáng sủa"  (Clairement obscur). Thơ lập thế quân bình giữa tiếng  nói và niềm câm lặng  sấm sét. Thay vì từ  chối sử dụng ngôn ngữ mà thái độ Socrate  từng có, thay vì chấp thuận lời Novalis thốt ra,  vào năm 1799, rằng viết lách  và nói năng là những hành động kỳ  dị, hắn buộc lòng cầu viện  tới ngôn ngữ (ngôn ngữ, tạm ví như đóa hồng xanh muôn đời của Don Juan,, ôi màu xanh mang sắc tố khổ đau, le verte  porte malheur, thơ của John Ashbery, trong bài  "The bungalows"),  cho dù  bị quần  chúng ngộ  nhận, ném đá, nguyền  rủa (poète  maudit); Baudelaire  chịu tai  họa vét túi 30 phật lăng trả tiền tòa cho tập thơ "Les Fleurs du Mal" chẳng phải là hình ảnh bi tráng duy nhất.

11.

Thơ đẩy tới  kỳ cùng nghịch lý của  thơ và mỗi bước thơ  khai phá đánh dấu thời khai ngộ mới của thi sĩ. Là một kẻ mật tri (gnostic) hắn không bao  giờ bị khô nguồn, bế  tắc mà chỉ có người  đọc thơ bế tắc, khô nguồn.

Thi sĩ, một lần  nữa, kẻ mang ánh sáng cho bóng  tối, một loài chim hiếm quí, ém tiếng ngậm lời, bay về gieo hạt giống giữa sa mạc.

 

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC