SUY NGHĨ RỜI

Khế Iêm

 

 
 


 

 

Thơ mở rộng tới mọi nơi, mọi  thời, tới tất cả những gì liên quan đến đời  sống và con người,  ngay cả nỗi hiu  quạnh. Chỉ như thế, thơ mới  đẩy tới được mọi  chân trời, đưa những  bước chân phiêu lãng ra khỏi ranh giới những biên địa. Thơ là nỗi khao khát trong mỗi người  chúng ta, tác  giả và người  đọc, được thắp  sáng bằng ngọn lửa của ngôn từ. Chưa bao giờ và sẽ mãi mãi, thơ là một hành trình  không mệt  mỏi, soi  rọi thực  tại. Không  có đời sống nào giống đời  sống nào, và đẩy  tới cực đoan trong  cách nói cũng là một hình thức biểu hiện tự do  tuyệt đối trong thơ. Bao lâu chúng ta không  chấp nhận những  cá biệt, bấy  lâu chúng ta  sẽ rơi vào dạng đồng phục  và tiếng nói thơ sẽ  mất đi trong sa mạc.  Bởi vì thơ, chính xác hơn, là khả năng  của sự lắng nghe. Những âm thanh dù chát chúa  hay êm dịu đều là  những lực đẩy cần thiết  cho thơ chuyển mình đi về phía trước.

Đã đến  lúc của một  ngã rẽ. Và  thơ truyền thẳng,  trực tiếp, từ chối những  đánh giá mang  đầy tính chủ  quan và phiến  diện. Nhà thơ, hơn ai hết, là kẻ biết  vứt bỏ những vòng hoa và vương miện, quay về cái chân diện mục, đối  mặt với chính mình để làm một hóa thân khác.

Thực trạng  trong thơ VN đang  có hiện tượng, hao  hao giống nhau trong ngôn  ngữ và cách  diễn đạt. Bên  cạnh đó, có  những nỗ lực không ngừng tìm  kiếm ở một số những nhà  thơ, đang báo hiệu hình thành một phong cách mới.

Đã chấm dứt và sang trang một thời kỳ đông đá.

Đã thấy  đâu đó những dấu  hiệu cản đường, những  chờ xem và quay mặt. Những tinh thần khảo cổ đang cố đánh bóng lại những phiến đá đã rêu xanh.  Không sao. Thơ bỏ lại những  cánh bay đã mỏi, những gạch ngói  phong sương. Đã  có nhiều cái  bóng lớn hơn  cái hình, những chuyên  viên hóa trang  vẽ bùa bát  quái. Nhưng chưa  có ai chịu lên  tiếng: Nhà thơ  VN, chúng ta vẫn còn ở mức khởi hành. Nếu những âm thanh ấy vang lên bên trong ta,  chắc hẳn sẽ là ngọn lửa đẹp. Một cánh phủ định đến kỳ cùng đồng thời nắm bắt được ở đằng sau, cái thực hữu.

Chúng ta đã ra ngoài hay còn ở lại đều hiểu, thơ chính là đất đai và hơi thở, và là nơi trú  ngụ cuối cùng, dù rằng như sương khói. Điều này mang tới  một hàm ý, thơ là sự hài  hòa giữa cái chung và cái  riêng. Cái chung là  con người và đời  sống, cái riêng là ngôn ngữ và  cách điệu. Cái chung là tình,  cái riêng là chữ. Hai gốc ấy đều  là gốc đại thụ. Chúng  ta nhìn thấy cái chung  và đọc thấy cái riêng.

Từ góc  độ đó, thơ mở  ra một thi phạm  khác. Và nếu nói  như Jim Harrison, nhà  thơ là con "chữ  say", và nhìn thấy  ở bên kia cõi khởi sinh đang ứ  tràn ánh sáng, thì cái tổng thể  của thơ chỉ là thơ. Không có gì phải nhiều lời nữa.

Cái kỳ  lạ của định  mệnh luôn  luôn  ở chỗ những  khúc quanh. Và phiêu hốt làm nên những dấu ấn.  Chúng ta đang ở thời điểm mà sau lưng là  những ảo tưởng  quá khứ đã  bị vỡ vụn,  và trước mặt  là những va  chạm mạnh mẽ  với một thế  giới rộng lớn,  cả trong đời sống và  trong tâm thức. Chúng  ta là ai, những  nhà thơ của thập niên 90? Chúng ta  đi, rộn rã lên đường để tìm  bắt lại tiếng nói của chính mình, và không phải của ai khác.

Còn đó, ngày hội xa xưa đang vang lên cùng với những điêu tàn của những miếu  đền cổ tự.  Thanh âm  của  bao thế kỷ  qua, chừng như những bóng ma làm  hôn ám không khí, cắt đứt mất  hơi thở của đời sống thực và ném ngược hành trình  thơ vào chỗ bất động. Thơ phải là những chuyển động không ngừng, như nước chảy, như tiếng rống của sư tử vọng về từ rừng  già. Trong một nghĩa nào đó, thơ không chỉ quẩn  quanh mãi nơi những  góc hẹp. Thơ giương  buồm ra khơi, say bụi đường và bão tố nếu chúng ta hiểu như những biến động của nội tâm giữa mép rìa của bến lữ.

Đã xa những đồng bằng, những nơi đi chốn đến, nhưng ngôn ngữ Việt vẫn gân  guốc, như lịch  sử. Đó  là  khả năng sinh  tồn trải hàng nghìn năm, thấm đượm trong ta cả  giấc mơ và niềm cay đắng. Thơ ở dọc ngang  những ngả đường,  gõ trên mặt  đất, nghe như  có tiếng sóng... Hoàng hôn  và bình minh tan đi trong  khoảng khắc và chừng như chúng ta đang bước vào cõi bất biến.

Nhà thơ  cần tự do  như chim chóc  cần khí trời.  Không có tự do, không có thi sĩ. Tự do thể  hiện trong tiến trình sáng tác, trong phong cách và đời sống. Sự mời gọi  của im lặng có lẽ cũng là phá bỏ những  ước lệ mà  bấy lâu nay  chúng ta mang  như cái ách giữa đàng.

Điều đáng  phàn nàn là chúng  ta vẫn nhốt thơ  trong cái hàng rào kín bưng của  từ ngữ: tự do hay  phá thể là những chỉ  danh không chính xác. Thơ không thể có là  tự do khi còn nằm trong giới hạn tìm kiếm mà  chỉ có tự do khi đã nhập  vào (nhập vào đâu? Cỏ cây, trời đất?) không qua trung gian sự thể hiện  của ngôn từ. Đó cũng là một cách nói để đẩy thơ đến điểm cùng tận.

Hãy dừng lại và ngược về thời đã qua. Thơ phá vỡ khả thể này phải bày ra cho  được một khả thể khác. Phá,  chúng ta cần tuyên ngôn, nhưng xây,  chúng ta cần  chiêm nghiệm và  tu tập. Trong  bao name nay, thơ như con thuyền không  lái, lông bông, chẳng trụ vào được bến bờ nào. Thơ tràn đầy nhưng rất bản năng. Vả chăng, bài thơ là một tác phẩm toàn triệt, về kiến trúc, tư tưỏng và ngôn ngữ.

Có rất nhiều loài chim quí. Hãy mở ra những đường bay.

 

 

Last modified on 07/11/2007 7:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC