CÁI CHẾT CỦA NỮ THI SĨ NADIA ANJUMAN HERAWI DƯỚI CHẾ ĐỘ TÀN ÁC TALIBAN Ở AFGHANISTAN

Linh Vũ

 

 
 

 

 

 

 

mm

Nadia Anjuman

 

Nadia Anjuman Herawi là mẫu người đàn bà đẹp xứ Afghanistan, một nhà thơ thiên tài đầy can đảm. Cô chết năm 25 tuổi với tình huống rất đáng ngờ. Nhiều người đã nghi vấn, không biết cô phạm tội gì? Chẳng nhẽ, họ kết tội cô vì thân phận một người đàn bà, một nhà thơ! Hay cô đã can đảm nêu lên ý tưởng tự do? Nadia Anjuman là người dám đứng lên phát biểu lập trường ủng hộ cho phụ nữ và cho chính mình. Cô là người tha thiết với văn học, không sợ chết, luôn tìm đọc nhiều sách báo, thơ văn của các Thi Sĩ, nhà văn mà bọn chó săn của chính quyền Taliban ngăn cấm họ sáng tác. Trước đây, chính phủ Ái Nhĩ Lan (Ireland) có thể nhục mạ Thi Sĩ Yeats khi viết nên lời thơ, nhưng chính quyền không giết một thiên tài như ông, họ chỉ ngăn cấm không cho xuất bản những tác phẩm đó ra đại chúng mà thôi. Trong thời gian này, chúng ta không thể xác định được tình trạng của một nhà thơ nữ Hồi Giáo Nadia Anjuman sẽ ảnh hưởng quan trọng một cách trực tiếp hay gián tiếp như thế nào về nguyên nhân gây nên cái chết đó. Điều này, là một sự kiện để người ta tìm ra nguyên nhân hợp lý cho thế giới nhìn thấy, để cản ngăn, nói lên nơi nào là địa ngục trần gian và điều gì đã làm cho tình trạng xã hội trở nên tồi tệ, trong khi có thể làm tốt hơn. Trường hợp Nadia Anjuman, nếu cô có thoát chết trong chế độ tàn ác Taliban, thì cô cũng không tránh khỏi bàn tay sát thủ của chồng cô, là một học giả, một nhà văn.

Bàn tay kẻ cướp bóc đã bóp nát giấc mơ vàng của mọi người trong trận cuồng phong quái dị này? một câu trong tập “Strands of Steel”

Những cảnh hãi hùng đã xảy ra từng giây phút, điều này đã kích động nhà báo Christina Lamb viết lên những bài tường trình rất xúc động. (Christina được giải thưởng báo chí với những đề mục nóng bỏng đang xảy ra tại Afghanistan. Bà đã viết quyển sách nổi tiếng với tựa đề “Sewing Circles of Herat” nơi mà cô Nadia Anjuman sinh sống). Những bài viết của Christina Lamb rất chính xác, bà viết: Nhiều người bạn của Nadia Anjuman nói rằng, “gia đình cô rất giận dữ vì cô đã xuất bản tập thơ nói về tình yêu và vẻ đẹp thiên nhiên, điều đó xem như đã xúc phạm, làm nhục cho gia đình.”
 
Đừng chất vấn tình yêu, nó là nguồn cảm hứng dâng trào trên ngòi bút. Lời yêu thương của tôi đã chết lịm giữa trái tim  (trong tập Stands Steel)

Nadia Anjuman là một nhà thơ mà chính ngôn từ trong thơ đã làm cuộc đời cô trở nên thê thảm. Những tác phẩm của Anjuman lẽ ra phải được gia đình cô quí trọng, họ không xem đó là một tài năng thiên phú. Ngược lại, họ xem tình yêu và vẻ đẹp thiên nhiên là một thứ gì nhục mạ, lẽ ra phải để cô Nadia Anjuman phô bày cho thế giới những điều tuyệt vời đó. (Một đoạn thơ cô viết).

... Ngay cả, tôi là người con gái chỉ biết yêu thơ và nhạc Thơ tôi vừa mới chấp cánh đã  bị xóa bỏ thảm thương Giống như những mầm non chưa kịp nhớ bàn tay của kẻ làm vườn... 
Nhà thơ như Nadia Anjuman giống như con chim bị nhốt trong lồng, không tung nổi cánh bay. Mặc dù thế, nhưng cô vẫn dùng trái tim để hát cho chính mình những bài ngợi ca tình yêu và nét đẹp đất trời. Đã vậy, thế gian còn cướp đoạt đôi cánh tự do của cô và những ca khúc khải hoàn. Nadia còn lại những gì? Những gì cô để lại thế gian và ai đã cướp mất thế giới của riêng cô, với những ca khúc và hướng đi tốt đẹp của tương lai.

Tôi bị giam chặt trong bốn bức tường
Đầy khổ đau và tuyệt vọng
Đôi cánh tôi buộc chặt làm sao tôi tung nổi cánh bay...
Tôi là phụ nữ Afghanistan, tôi phải kêu gào...

Nếu Nadia Anjuman sống được ở xứ sở này thì số phận cô còn khổ đau hơn cả sự chết. Cô không được tự do hành động, không tự do phát biểu, không tự do để viết những bài thơ của mình. Cuộc đời Nadia sẽ bị cưỡng bức, xiềng xích trong chế độ kèm kẹp sắt thép, bị tù đày và bắt buộc cô phải trở thành người câm lặng. Đúng như vậy, cô đã để lại những ngôn từ đầy can đảm, bất khuất và những sự thật của xã hội. Đó là những điểm son mà cô để lại. Cô viết:

Đừng hỏi về thời thanh xuân tươi đẹp của tôi Khi trên tay, trên chân, trên lưỡi tôi bị bọc bằng lớp thép của thời gian hôm nay, nó sẽ mang dấu ấn một thời của tôi...

(Còn nhiều bài thơ được chuyển ngữ từ Thomas Fortenberry và Mindfire nhưng không ghi lại hết được) sau đây là bài thơ tựa “Ghazal” được Khizra Aslam chuyển ngữ

Ghazal

Trên vành môi này tôi cất lời ca;
Đó là bài ca từ đáy tim tôi.
Rằng lời tôi với ý nghĩa đắm say trong đó,
đã chết khi hạnh phúc trở thành nỗi đau trong bài hát của tôi.
Nếu thấy lời nào trong đôi mắt tôi,
thì hãy xem đó như điều bị bỏ quên trong bài hát.
Xin đừng hỏi thế nào là yêu thương... chính nó đã có trong anh;
Lời hát yêu thương của tôi là tiếng kêu gào trong nỗi chết.
Hy vọng của mọi người là đóa hoa lòng tôi mơ ước.
Giọt lệ trong tôi chưa nói hết nỗi niềm.
Những đứa con gái nơi này đang hát bài Qasida và Ghazal,
Điều gì đã bóp chết lời thơ của họ và bài hát của tôi?
Những kẻ ác nhân không bao giờ hiểu nỗi niềm hạnh phúc của tôi;
và chẳng cầu xin nhiều đoái hoài cho tuổi trẻ.
Từ bàn tay, bàn chân, ngôn từ của tôi đã trở thành hiểm họa.
Nhưng tên tôi được khắc vào bia đá cho thế hệ hôm nay.

Hay một bài thơ khác: (của Mahnaz Badihian chuyển ngữ)

Miệng tôi không được phép mở ra
thì làm sao tôi hát...?
tôi bị cuộc đời ghét bỏ.
Thì hát hay không có khác gì đâu .
Tại sao tôi phải nói lên lời ngọt ngào,
khi trong tôi mang nhiều cay đắng?
Ôi kẻ đàn áp tha hồ bịt miệng tôi.
Tôi không có bạn tri âm trong cuộc đời.
Ai là người cho tôi gởi niềm tâm sự?
Điều gì khác biệt giữa nói với cười
Giữa chết và sống.
Giữa tôi và niềm cô đơn mỏi nản.
Giữa khổ đau và buồn thảm.
Tôi đã sinh ra trong vô nghĩa.
Cho nên miệng lưỡi tôi không có quyền được nói.
Khi tim tôi có cả một mùa xuân
Để hoan ca chúc tụng
Tôi làm được gì khi đôi cánh bị cột chặt,
thì làm sao tôi cất cánh bay lên?
Tôi đã sống trong thầm lặng quá lâu,
Nhưng không bao giờ đánh mất những giai điệu êm đềm,
Trong từng phút giây tim tôi thổn thức
với những bài hát từ cõi lòng tôi trỗi dậy,
Để nhắc nhở chính tôi
Một ngày nào đó phải đứng lên bẻ gãy xích xiềng,
Từ nỗi cô đơn
Từ những khúc hát u uất trong tôi.
Tôi không phải là cây Bạch Dương mềm yếu
Sẽ bị rung chuyển theo chiều gió.
Tôi người phụ nữ Afghanistan,
Không chỉ ngồi yên than khóc

Hay một bài khác: (Mahnaz Badihian chuyển ngữ trong “Ghazal” của Nadia Anjuman)

Không mong ước để nói nữa. Thì ai là người để hỏi và nói được điều gì?
Tôi là  người bị bạc đãi, không thể đọc huống chi là được nói?
Những lời mật ngọt đối với tôi là viên độc dược!
Tôi sẽ thét lên! đấm vào mặt kẻ bạo tàn và những người trêu ghẹo với những gì tôi không nói được?
Không ai hiểu nổi sự đớn đau trong tôi và những gì tôi mơ ước;
Điều gì làm tôi khóc, tôi cười, tôi chết và những gì cho tôi sống được hôm nay?
Tôi và niềm tin này;  trong sự thất bại đau buồn và lòng mong muốn;
Tôi không thể làm được điều gì ngoài những ngôn từ thiết tha mà tôi muốn nói.
Nơi tim tôi đang có một mùa xuân với muôn vàn thơ mộng.
Nhưng tôi không thể chấp cánh bay lên. Tôi muốn biết ai đã giam cầm tôi ở lại...
Vì tôi lặng im nên không nhớ nổi bài hát nào,
Tuy thế, mọi thời gian trong tim tôi như có điều thôi thúc tôi muốn nói lên.
Tôi tưởng tượng đến một ngày khi chiếc lồng kia bung gãy;
Nỗi cô đơn trong tôi tan biến, niềm vui sướng dâng trào và tôi sẽ ca hát vang khắp mọi nơi.
Tôi là cành cây yếu ớt giữa trời rung mãi;
Người con gái Afghanistan có thể nói bất kỳ nơi nào những gì họ mong  muốn.

Hay một bài khác: (trong “Ghazal” do Khizra Aslam chuyển ngữ)
 
Có một đêm những ngôn từ tràn ngập trong tôi
Tâm hồn cất cao lời réo gọi
Lửa bừng cháy trong tôi, lòng tôi như thác lũ?
Linh hồn tôi tỏa ngát hương thơm ngập đầy trên thân thể
Tôi không hiểu, những ý tưởng tuyệt diệu đó từ đâu bay đến
Luồng gió nào thổi hết niềm cô đơn trong tôi
Như ánh sáng sau lớp mây mù
Và không còn niềm hy vọng nào hơn thế nữa
Tim tôi nhảy múa reo mừng như vì sao lấp lánh
Và đôi cánh tôi bay khắp bầu trời
Nổi điên của tôi có chứng cớ, có thể được tìm thấy
Thượng Đế ơi! xin đừng chối bỏ hãy nhìn thẳng tôi một lần
Xem như là ngày phán xét
Sự lặng thinh đối với tôi là ngày tận thế
Xin ngài cho tôi niềm rung cảm, ôi hạnh phúc biết bao!
Cho hằng đêm nguồn thơ tôi tuôn chảy

Hay một bài khác: (do Khizra Aslam chuyển ngữ)

Một người sống giữa núi rừng xa la!
Trong giấc ngủ tĩnh lặng của màu ngọc trai thanh nhã.
Thì kỷ niệm nào còn giữ lại trong vùng ký ức!
Hãy giữ kỷ niệm như dòng sông tươi mát.
Dòng sông sẽ trôi vào quên lãng, còn ký ức tôi sẽ ngập đầy cát bụi.
Tiếng kêu vang từ bên kia núi làm lòng tôi trăn trở
Sao có chuỗi vàng từ tay kẻ sát sinh?
Cơn lốc bạo cường đã giết chết cả niềm tin.
Thì làm sao chúng ta thấy được huyền diệu của màu trăng trên cành lá long lanh? Điều này không bao giờ chết!
Nếu sông ngừng chảy,
Và nếu mây mở cửa trái tim anh,
Hằng Nga sẽ thánh hóa anh bằng những nụ cười xinh xắn.  
Núi sẽ mềm để cây xanh đâm chối, kết trái,
Chỉ cần một điều tốt trong các điều xấu
Mặt trời sẽ mọc lên?
Những ký ức đua nhau cùng chiếu rọi?
Những kỷ niệm vẩn ẩn tràn trong khóe mắt
Từ thiên tai kinh hoàng của mưa lũ
Liệu niềm hy vọng có đến không?

Bài “Memories of light blue” Những ký ức màu xanh.(do David Tayyari chuyển ngữ)

Những đày ải trong lãng quên nặng chừng như quả núi 
Tên quí giá của bạn đã ngủ yên trong vũng lầy yên lặng
Ký ức của bạn bị lu mờ đó là niềm hy vọng màu xanh
Tâm hồn bạn đã bị bùn nhơ mà quên đi sóng gào biển cả.
Thì nơi nào là ý nghĩ thông suốt của anh?
Và nơi đâu chiếc thuyền trăng mang dấu ấn hòa bình chở bạn ra đi?
Sau cái chết sẽ là vùng cô lạnh như lớp vỏ sò trên biển cả
Hãy lấy khổ đau để đẩy tan đám mây mù giữa trái tim ta tăm tối
Chị Hằng Nga sẽ yêu thương cho ta lại những nụ cười
Nếu núi mềm lòng, cây xanh sẽ đâm chồi trẩy lá
Hoa quả xum xuê
Tên anh sẽ được khắc trên đỉnh núi
Sẽ trở thành mặt trời?
bình minh trong ký ức
một ký ức với ánh sáng màu xanh
Trong đôi mắt chán lũ lụt, đói khát, mưa bão và bóng tối sợ hãi bao trùm
Tất cả sẽ biến thành tia hy vọng... ? 

(Translator's Note: “light blue” = “great hopes”)

Trích đoạn từ (A Nation Challenged ) “Thách thức của một dân tộc”: Culture: Afghan Poets Revive a Literary Tradition “by Amy Waldam, New York Times December 16, 2001: Herat, Afghanistans, Dec. 15).

Trong suốt thời gian chính quyền Teliban cai trị, đã có gần 30 người đàn bà liều chết để tập đọc, tập viết ở nhà thầy giáo Muhammad Ali Rahyab. Ông là giáo sư dạy môn văn chương và phương pháp luận ở đại học Heart, và cũng là người sáng tạo ra bảng hiệu quảng cáo làm nơi dạy may vá để che mắt chính quyền, cho nên đã trở thành truyền thuyết là trường “Sewing Circles of Herat”. Giáo sư Rahyab có ba người con gái. Một người có năng khiếu viết truyện ngắn, người thứ hai có tham vọng trở thành phóng viên nhà báo và người thứ ba vừa mới 12 tuổi. Theo lời ông nói, chính ước mơ của những đứa con, đã thôi thúc ông trong công việc giảng dạy cho những người phụ nữ một cách bí mật. Ông nói, ông tin tưởng vào sức mạnh của giáo dục. Ngay cả trong một xã hội mà tất cả mọi người đều mù chữ, nếu chúng ta cứ bắt đầu từ những nhóm người nhỏ, thì sau đó mỗi ngày sẽ lan rộng ra thêm. Ông cho biết, người A Phú Hãn thích thơ văn hơn là chính trị. “Nếu chúng ta muốn nói hay phát biểu điều gì, tốt nhất nên viết nó bằng thi ca. Vì một bài thơ có thể có mãnh lực xóa tan những phiền phức trong gia đình, thậm chí có thể cho một làng xã”. Trong công việc tạo ra một căn bản giáo dục mới cho phụ nữ, mỗi tuần ông triệu tập tất cả học trò của ông lại để bàn thảo về những gì mà họ đã đọc được ở nhà, mặc dù đó là tác phẩm của Tolstoy, Balzac hay Dickens. Họ cũng bàn luận về thơ và truyện ngắn của chính họ đã viết ra. Trong số những người học trò đó, ông đã tìm thấy một tài năng thiên phú, đó là cô Nadia Anjoman (người ta thường gọi là Anjuman), một người láng giềng của ông. Nadia Anjuman cuộn mình trong bộ trang phục màu đen, trông giống như một con mèo nhỏ trong phòng học với đôi mắt tinh khôi, trông giống như một nàng tiên. Nadia mới vừa tròn 20 tuồi đã viết gần sáu đến bảy chục bài thơ. Cô là người đầu tiên trong gia đình yêu thích văn thơ, cô đã mạnh dạn đứng lên để đấu tranh, giống như những học sinh của giáo sư Rahyab và cô cũng được sự hưởng ứng của gia đình. Cô chống đối việc hôn nhân quá sớm, vì cô lo sợ sẽ mất quyền tự do để viết lách. Cô nói: “Tôi nghĩ rằng tôi rất thành công” “Người con gái không thể bó buộc phải lấy chồng ở tuổi 14 - 15. Những đề tài cô Nadia viết hầu hết về đời sống của những người phụ nữ “Bởi vì họ đã đau khổ quá nhiều”. Có lần cô đọc trích đoạn trong một bài thơ với giọng vang lên sang sảng...

Tôi bị xua đuổi khắp nơi, lời thì thầm văn vẻ trong hồn tôi đã chết.
Đừng tìm ý nghĩa của niềm vui trong tôi, vì niềm vui trong tim tôi đã chết
Nếu bạn đang tìm một vì sao trong mắt tôi, đó chỉ là hư cấu không bao giờ có thật

Hay một bài khác: (bản dịch của Majlinda Bashllari)

“Flowers of Disgrace” Những Loài Hoa Ô Nhục

... Trong cơn mê sảng tôi cố giải thích những điều suy tư với Thượng Đế,
về sự quan trọng của của tiếng lòng tôi nhưng tôi
không thể đối diện với Ngài,
Tôi lo sợ Thượng Đế sẽ nhìn thấy đôi mắt tôi nhòe trong ngấn lệ
tôi sẽ không ngăn nổi dòng lệ tuôn trào từ những nỗi đau...
Dòng âm thanh bản Sanata như loang xa trên quả đất
ngập tràn đến tận nơi của những người phụ nữ có mạng sống  bị cướp đoạt như cắt đứt một cành hoa,
một loài hoa héo khô mang nhiều hy vọng...

... Thượng Đế ơi! Chất ma túy này từ đâu mang đến,
Chất độc này giống màu cà phê đen sánh đặc, giết chết con người?
Loài hoa này đến từ đâu?
Tại sao nó trở thành thứ độc dược điên rồ?
Cái gì làm nó tươi đẹp
suốt mùa hạ cho đến mùa đông...

Hãy bay đi loài hắc điểu,
Bay ngang bầu trời đẫm máu miền Đông,
Trên những lớp sương mù tháng mười một,
Nơi đó có sặc mùi hoa nhơ nhuốc
và nanh vuốt của kẻ bạo tàn...
 ... họ sẽ không bao giờ giữ bắt được anh…

Hay một bài khác: (của Thomas Fortenberry) 

(Hawkgirl) Loài Hắc Điểu hay “Người con gái sắt thép”

Kẻ bạo tàn đã bóp chết lòng cuồng nhiệt của người con gái can trường,
nhưng không bóp chết được trái tim dũng cảm của cô.
bởi vì cô luôn trân quí những bước thăng trầm của lịch sử
mặc dù bao biến động không ngừng như mưa lũ
nhưng cô vẫn ngước mặt đứng lên đón nhận,
cho dù họ đang lùng bắt cô, nhưng cô vẫn ngang nhiên đứng lên
vì cô đã nhìn thấy một tương lai tươi sáng ở ngày mai
mặc dù bây giờ là sự mất mát, khổ đau, lãnh đạm, hận thù
đang lan rộng và cô hiện giờ  là nạn nhân của chế độ phụ hệ
bị khép kín âm thầm như những ngày Nguyệt thực
nhưng mặt trăng sẽ không bao giờ che hết mặt trời
cô vẫn thấy khoảng bầu trời xanh quang đãng
vùng bao la vô tận của một chân trời
đón chào cô trở lại
trong vinh quang tự do.

Hay một bài khác: (của T.S. Kerrigan chuyển dịch)

“The Fall of a Lark” Loài Sơn Ca Gãy Cánh

“Đôi cánh tôi cột chặt...  không còn bay được nữa”
Cô đã viết điều này trước giờ cô quỵ ngã,
Một tạo vật nhỏ bé của trái đất so với bầu trời,
Một con Sơn Ca bị giết chết bằng viên đá của người tàn bạo,
Nó rơi trên mặt đất và lời ca không còn nữa,
Chỉ còn lại một nắm xương vỡ vụn.
Điều gì cô đã cam chịu quá lâu
Sự ngu dốt ở đâu đã biến viên đá thành mưu kế,
Kẻ bạo tàn nào đã bóp chết một lời ca?
Chọn bài hát là hành động đi tìm niềm khát vọng;
Cô biết rằng, nó chính là bản chất tự nhiên.
Chim Sơn Ca là vật đầu tiên họ giết.

Một bài khác : (Songstress do Michael R. Burch chuyển ngữ)

Songstress  Tiếng Ca Chim Hồng Tước

Trong lồng ngực thanh xuân tim tôi sẽ ra sao
bao cuồng nhiệt sẽ dâng trào để tim tôi ca hát
để chống lại bạo lực đang áp đặt nơi đây: Tất cả tôi đã hiểu
những cảm giác tê cóng, đớn đau của sự chết
Nhưng rồi cuộc sống cũng qua mau
Về một chốn vĩnh hằng mà ai cũng hiểu.
Cái chết sẽ làm tim ta tươi sáng mãi,
Kẻ hung bạo có thể nhai nát chúng ta bằng nanh vuốt của chúng, bọn họ có thể nuốt chửng chúng ta vì chúng ta sợ hãi.
Tuy nhiên chúng ta không thể chết như vậy
ai đã nắm giữ vận mệnh của bạn, mà bạn không thể cất lên lời hát, chẳng lẽ bạn chỉ ngồi yên đây để nhìn ngắm ngôi mộ của mình trong chiếc khung trắng, một màu nhợt nhạt khốn khổ!
Bạn sẽ không bị bỏ tù ở đây vì bạn là loài chim Hồng Tước khôn ngoan!
Tiếng nói bạn bay vút tự do, bài hát của bạn sẽ bay thẳng lên cao và sống mãi.

Nadia Anjuman sinh năm 1980 ở Herat, Afghanistan, cô tốt nghiệp trường trung học Mehboobe-e Herawi và học năm thứ ba ở đại học Herat University, cô học khoa văn chương và khoa nhân văn cho đến khi cô chết. Ông Kalil Jalili cho biết, cô Nadia Anjuman là láng giềng của ông ở Afghanistan. Mọi người nơi đây biết nhiều về cô, họ nói rằng “ Tôi chưa bao giờ thấy người nào trung thực, tài giỏi, tử tế và thông minh như Nadia. Thi phẩm đầu tay của cô xuất bản năm 2005 với tựa đề Gul-e-dodi có nghĩa là (Dark Red Flower) “Đóa hồng đen” sau đó đã nhanh chóng phổ biến khắp Afghanistan và nước láng giềng Iran.

Thi phẩm này là linh hồn tôi là một vì tinh tú, đó là sự thật, là đoạn cuối từ giấc mơ vô tận của tôi (Trong bài những sợi thép của tôi Strands of Steel )

Vào những ngày sau đó khoảng ngày 04 tháng 11/2005, người ta đã tìm thấy cô chết tại nhà ở Herat. Theo lời ông đồn trưởng cảnh sát Nisar Ahmad Paikar nói rằng, chồng của cô Nadia Anjuman là ông Farid Ahmad Majid Mia đã nhận tội đánh cô, nhưng không nhận tội giết cô, ông cho rằng có thể cô Nadia tự vận. Ông Farid Ahmad Majid Mia (còn có tên là (Nia) là một giảng sư đặc biệt của trường Đại Học Herat University, ông đã tốt nghiệp ngành văn chương thuộc khoa nghiên cứu ngữ học. Chồng của Nadia, mẹ cô và dưỡng mẫu có thể cũng đã bị bắt. (Trong bản tin mẹ cô bị bắt đã bị ông Kalil Jalili bác bỏ, ông nói rằng tất cả những thành viên trong gia đình Nadia Anjuman ông đều biết và đã từng nói chuyện với họ. Nếu bị bắt, có thể là người mẹ kế của cô Nadia mà thôi, điều này đã được xác nhận bởi văn phòng War & Peace-  Afghan Recovery Report accounts to follow). Trong thời gian bản tin được đưa lên báo nhưng không được rõ ràng lắm, những người bị tình nghi hay bị bắt giữ chưa có những chứng cớ buộc tội. Hơn nữa trong gia đình cô người chồng không muốn cho khám nghiệm tử thi.

(Cô Nadia đã trở thành một nhà thơ lớn của Ba Tư. Ahmed Said Haghighi giám đốc viện Literary Circle of Herat thành lập năm 1920. Ông Haghighi là người đã nghĩ ra cái tên thành lập xưởng may để che dấu mục đích dùng để giáo dục cho giới phụ nữ . Sau khi chính phủ Taliban đóng cửa trường học của mọi nữ giới, họ phá hủy tất cả và dùng nó để làm nhà thờ Hồi Giáo).

“I'll Never Return” Tôi không bao giờ quay trở lại

Tôi là một người phụ nữ thức thời
Tôi sẽ đứng lên và biến thành bão tố, thổi bụi tro trong mảng cháy của tuổi thơ
Tôi đứng lên từ dòng máu nóng của đồng bào tôi
Sự phẫn nộ của dân tộc, cho tôi được quyền hành động
Sự đổ nát, làng mạc cháy xác xơ đã dấy lên lòng thù hận trong tôi chống lại kẻ thù, Tôi là một người phụ nữ thức thời,
Tôi đã tìm thấy hướng đi cho chính tôi và không bao giờ quay lại.
Tôi đã  mở cánh cửa đần độn của tôi
Tôi sẽ từ giã mọi ích kỷ
Đồng bào của tôi ơi! Tôi không là gì cả
Tôi là một người phụ nữ thức thời
Tôi đã tìm thấy hướng đi phía trước và không bao giờ quay trở lại.
Tôi đã nhìn thấy những người đi chân đất, những kẻ lang thang và những đứa trẻ không nhà
Tôi đã nhìn thấy cô dâu khổ đau khoác chiếc áo tang
Tôi đã thấy bức tường khổng lồ của nhà tù nuốt trửng tự do trong dạ dày phàm ăn của họ.
Tôi sống lại giữa hào hùng chống đối và lòng can đảm
Tôi đã học được bài hát tự do trong hơi thở cuối cùng, trong dòng máu và trong chiến thắng.
Hỡi đồng bào, hỡi anh em! đừng đánh giá tôi là kẻ mềm yếu, bất tài
Với tất cả sức mạnh của tôi, tôi sẽ làm người đồng hành với bạn trên con đường giải phóng quê hương
Tiếng gào của tôi sẽ hòa chung với hằng ngàn phụ nữ khác đứng lên
Tôi sẽ siết chặt bàn tay với muôn vạn đồng bào
Cùng với bạn. Tôi sẽ đẩy mạnh con đường tổ quốc tiến lên,
Chúng ta sẽ bẻ gãy mọi xiềng xích trong cuộc đời nô lệ,
Hỡi đồng bào của tôi ơi!  hỡi anh em ! Tôi không là gì cả
Tôi là một người phụ nữ thức thời  
Tôi đã tìm thấy một hướng đi cho chính tôi và không bao giờ quay trở lại.

Từ trong lao tù, người chồng của Anjuman khẳng định, ông không phải là kẻ giết cô ta. “Tôi không giết Nadia, làm sao tôi lại giết người tôi yêu được? Chúng tôi có một cuộc tranh cãi nhỏ, tôi chỉ tát cô ta trên mặt thế thôi, sau đó cô sang phòng khác và khi  trở ra cô nói với tôi là cô đã uống thuốc độc, đồng thời cô không phàn nàn về cái tát của tôi và không có gì để bào chữa. Cô còn căn dặn đừng nói với ai là cô uống thuốc độc hãy nói chết vì bênh tim”. Căn cứ theo tài liệu thì các giới chức có thẩm quyền đã hoài nghi những lý do nêu trên. Bà Maria Bashir công tố viện tòa án Herat đã khởi tố: “Một trong nhiều lý do để chúng tôi nghi ngờ là người chồng không mang cô đến bệnh viện sau bốn tiếng đồng hồ sau khi ông đánh cô ta”...

“Những người đàn bà khắp mọi miền đất nước của Afghanistan luôn luôn bị áp bức từ bên trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Bất kể người phụ nữ nào, cho dù họ là tín đồ hay không tín đồ, xấu hay đẹp, người bình thường đến người tàn tật, người giàu hay người nghèo, người có văn hóa hay mù chữ, che mặt hay không che mặt, ngu hay khôn, hèn nhát hay dũng cảm họ đều bị áp bức”.

Trong bản báo cáo của Hafizullah Gardesh và Salima Ghafari ở Herat (Afghan Recovery Report No. 196, 29-Nov-2005): cho biết không thể xác nhận chính xác thực trạng cái chết của cô Nadia vì nhiều lời khai mâu thuẫn và những bằng chứng đối nghịch nhau. Đồng thời với sự khước từ của gia đình không cho phép Bác Sĩ Barakatullah Mohammadi của bệnh viện cấp cứu Herat mổ xác khám nghiệm. cho nên cái chết đầy nghi ngờ của Nadia Anjuman có lẽ sẽ chấm dứt và những bí mật đó sẽ theo cô nằm yên nơi đáy mộ. Tử thi cô Nadia được mang đến bệnh viện lúc 12 giờ 30 sáng ngày 05 tháng 11. Kết quả khám nghiệm cho thấy cô bị nhiều vết bầm xung quanh mắt phải, ngoài ra không có dấu hiệu thương tích nào khác gây nên cái chết của cô ta. Ông Mohammadi nói: “Một cái tát vào mặt không thể làm cô chết được, chúng tôi đã đề nghị với gia đình cô Nadia phải thực hiện khám nghiệm tử thi, mới xác định được nguyên nhân cái chết, nhưng gia đình cô không bằng lòng. Vì thế cái chết của cô hiện nay vẫn chưa sáng tỏ. Dường như, trong đó có vấn đề khó hiểu, người ta cho rằng cô Nadia Anjuman đã làm nhục gia đình cô, bởi vì những bài thơ của cô. Theo bài tường thuật của Christina Lamb trong tờ The Sunday Times, The Australian và một vài tờ báo khác, cô viết: “Nhiều người bạn của cô Anjuman nói rằng, gia đình cô rất tức giận về cô và họ tin tưởng việc người đàn bà xuất bản thi phẩm nói về tình yêu và vẽ đẹp là một điều xấu hổ cho gia đình”. Điều này đã làm cho nhiều sinh viên khắp nơi bất mãn chống đối. Homayan Ludin sinh viên đại học Kabul University đã phát biểu: “Cô Nadia Anjuman là nhà thơ lớn của Afghanistan” Anjuman là nhà thơ bất khuất chống lại sự đàn áp người phụ nữ Afghanistan. Trong những bài thơ của cô có bài cô viết:

... Tôi là kẻ đang bị nhốt trong bốn bức tường
Chỉ có nỗi khổ đau  buồn bã quây quanh...
Đôi cánh tôi bị cột chặt không thể nào bay được...
Tôi là người phụ nữ Afghanistan tôi phải gào lên...

Tập thơ của Nadia Anjuman có tính cách thuyết phục những người tàn ác đối với đàn bà ở Afghanistan, đó là một trong những điểm chính yếu trong thơ của cô. Shahab Khan viết: “Cô Nadia Anjuman là một nữ Thi Sĩ kỳ diệu, là công ích của Thượng Đế. Đó là sự mất mát to lớn của chúng ta.” Liên Hiệp Quốc đã lên tiếng chỉ trích về cái chết của cô ta là sự mưu sát. Ông Adrian Edwards phát ngôn viên LHQ đã nói: “Đây là một bi kịch bạo lực của Afghanistan... Là một hành động hung bạo đối với phụ nữ, điều này sẽ gây một ấn tượng không tốt cho Afghanistan và bạo lực trong gia đình càng ngày càng lang rộng. Đó chính là điều tệ hại của gia đình cần phải quan tâm. Trường hợp này phải được làm sáng tỏ và nêu lên những sự tồi tệ, xấu xa ở đây như thế nào. Người phụ nữ đã đương đầu với mọi thách đố, ông nói “Chấp nhận mọi thách đố của người phụ nữ trong mọi hoàn cảnh thách đố“. Mặc dù cô ta không phải là một người anh hùng, ngay cả cô chỉ là một Thi Sĩ. Lấy công tâm mà nói, những năm Taliban nắm quyền ở Afghanistan, trong suốt thời gian đó người đàn bà không chỉ bị cấm đoán công ăn việc làm, việc học hành mà ngay cả những nụ cười ở ngoài đường cũng bị cấm đoán, chỉ có một vài việc cho phép người phụ nữ được làm đó là việc may vá áo quần. Cho nên Nadia Anjuman và những nữ văn sĩ khác của hội “Sewing circles of Herat” chỉ gặp nhau ba lần trong tuần tại xưởng may Golden Needle Sewing School, thay vì họ học may vá họ lại học viết chữ và đọc những sách cấm như: Shakespeare, Joyce, Nabokov, Tolstoy, Dickens, Balzac và Dostoevsky. Trong công việc làm đó, họ đã mạo hiểm thực hiện vì dưới chế độ Taleban đó là tội tử hình, thậm chí dạy cho con gái của mình tập đọc, tập viết. Những năm đó thật sự quá xấu cho những người phụ nữ có văn hóa và những người ước mơ được đi học. Theo lời Leyla một hội viên của hội  Sewing Circles Herat cho biết: “Đời sống của những người phụ nữ thời Taliban giống như con bò nhốt trong chuồng”. Có một lần bên trong trường Golden Needle Sewing School tất cả những phụ nữ đều bỏ khăn trùm đầu “Burquas” và ngồi trên một chiếc gối đệm xung quanh chiếc bản đen  chăm chú lắng nghe giáo sư Mohammed Nasir Rahiyab giảng dạy. Ông Mohammed khoảng chừng 47 tuổi là giáo sư văn chương của Đại Học Herat University, chuyên hướng dẫn những đề tài bị ngăn cấm như phê bình văn học, thẩm mỹ học, hay thơ văn. Đây không phải là những hoạt động riêng rẽ, như cơ quan Unicef đã báo cáo. Có hơn 29.000 con gái và phụ nữ ở tỉnh Herat đã nhận được sự giáo dục bí mật trong thời gian gần đây ở khu vực dưới thời cai trị của Taliban. Herat là một thành phố có quyền hãnh diện về sự kế thừa di sản văn học và danh tiếng. Trong quyển sách có tựa đề “Sewing Circles Herat” của Christina Lamb bà đã viết: Năm ngàn năm trước đây khi lập quốc thì Herat luôn được đánh giá là cái nôi văn minh của Afghanistan, là trung tâm nổi tiếng về nền văn hóa và giáo dục. Đó cũng chính là trung tâm quan trọng nhất về nhân văn ở thế kỷ 15th.   Au Sher Nawa'i nói: Herat không thể đơn độc đứng lên phát triển mà không có sự giao hợp của thi ca. Babur là người đầu tiên trong hoàng tộc có gốc từ Tamerlane được thừa kế bên cạnh người cha và mẹ của ông ta (Genghis Khan thuộc về phía bên người mẹ) Trong cuộc thăm viếng họ hàng ở Herat vào năm 1506, chỉ một năm trước khi rơi vào Uzbeks. Trong hồi ký của ông Baburnama, ghi chép tất cả những cuộc mạo hiểm của nhà vua phiêu lưu đến vùng Trung Á để tìm lãnh địa. Ông đã mất một phần của Ferghna. Ông viết về một thành phố đầy dẫy những chương trình giáo dục và những người đàn ông tài giỏi ít ai sánh bằng. Ngày hôm nay Herat vẫn là nơi để giáo dục và cũng có nhiều người đàn bà tài giỏi ít ai sánh được như nhiều nơi mà chúng ta đã gặp. Tôi tin cái chết của Nadia Anjuman là một sự mất mát lớn cho nền văn hóa Afghanistan. Điều này cũng là một hồi chuông cảnh báo và gọi kêu cả thế giới quan tâm. Nadia Anjuman đại diện cho sự phát sinh của thế hệ mới ở Afghanistan và phụ nữ Hồi Giáo phải đứng lên với những ý nghĩ và quyết định riêng mình, để nói lên tiếng nói, phải phô bày sức mạnh, ý chí cũng như tự hào và hãnh diện về mình.(Thomas Fortenberry) Hafizullah Gardesh và Salima Ghafari ở thành phố Herat (Afghan Recovery Report No 196 ngày 29 tháng 10/2005) trong bài viết, đã nêu lên rất rõ ràng: Cái chết  Nadia Anjuman phát xuất từ những xung đột và bạo lực, và điều này đã gắn liền một phần trong đời sống của những người đàn bà Afghanistan.  Farid Ahmad Majid Nia 27 tuổi là người chồng 15 tháng của Nadia đã bị bắt giữ và bị buộc tội đã giết người. Ông là giảng viên khoa ngôn ngữ học ở trường đại học Herat University, mạnh dạng tuyên bố là vô tội và nhấn mạnh là cô Nadia đã tự vận! Tôi rất yêu Nadia. Đời sống tôi sẽ vô nghĩa nếu thiếu cô ta. Việc ông Fraid khóc than với viện nghiên cứu “Institute for War and Peace Reporting” (IWPR) trong một cuộc phỏng vấn  khi ông ta còn bị nhốt trong tù: Ông đã xác nhận là có đánh cô ta. Theo ông Farid kể lại, đêm ngày 04 tháng 10 ông trở về nhà muộn, hôm đó nhằm ngày lễ thứ ba của lễ Hồi Giáo Eid. Theo phong tục người Afghanistan, hằng năm vào ngày lễ này người Afghanistan thường đi thăm viếng họ hàng, bạn bè thân thuộc (ngày lễ kỷ niệm tháng ăn chay của Hồi Giáo). Hôm đó tôi thấy quá muộn nên có khuyên cô Nidia đừng đi, nhưng cô vẫn tiếp tục mặc trang phục để đi thăm bạn bè. Tôi đề nghị chỉ đến thăm nhà người chị thôi, nhưng cô ta đã nổi cơn giận dữ và nói những lời không mấy tốt, cô mắng chửi tôi là người hạ cấp, là con đĩ chó, vì nóng giận tôi đã tát cô. Vài giờ sau đó, cô Nidia đến nói với tôi là cô đã uống thuốc tự vận, đồng thời cô trối lại là hãy chăm sóc đứa con sáu tháng tuổi. Nidia chết trước khi đưa đến bệnh viện. Dĩ nhiên, gia đình của Nidia và bạn bè không ai tin lời nói của chồng cô là đúng sự thật. Mẹ của Nidia cho biết, Farid có gọi điện thoại thông báo cho bà là Nidia đã uống thuốc độc tự tử. Khi bà đến bệnh viện thì thấy trên mặt và cổ của Nidia bị nhiều vết bầm. “Tôi chắc chắn 80 phần trăm, cô ta chết là do sự đánh đập của chồng cô “. Bà còn qui trách nhiệm cái chết của Nidia có liên quan đến mẹ của Farid, bà ta đã bị bắt giữ sau khi trốn chạy khỏi nhà. Còn mẹ của Nadia thì tuyệt đối không chấp nhận mọi lý giải Nadia tử vận. Bà nói với hai dòng nước mắt tuôn trào: Đời sống Nadia luôn tràn đầy hy vọng, cô không bao giờ mang tư tưởng tự vận”. Người bạn tâm phúc trong thi đoàn, bà Nahid Baqi cũng chống đối việc đổ lỗi của Farid là cô Nadia tự vận. Bà nói rằng, cô Nadia là người rất sùng đạo và luôn lên án những ai có hành vi tự vận, vì đó là điều chống lại giáo điều của người Hồi Giáo. Bà nói tiếp: Tôi không thể tin điều đó, là cô có thể hủy hoại đời sống để bỏ lại đứa con 6 tháng tuổi của mình. Cô Nadia rất yêu thương con, cô thường mang ảnh của cậu con trai khoe với bạn bè về sự lớn khôn của con mình. Cô là người biết chịu đựng gian khổ, biết hy sinh bất kỳ điều gì cho chồng con. Theo như bà Nahid nhận xét thì những lý lẽ của Farid và người mẹ của hắn thì nó không có gì để chứng minh cho vấn đề của hắn là sáng tỏ cả. Bà cũng tin rằng đây là cuộc cố sát có chủ mưu. Bà Nahid cho biết thêm: Mẹ của Farid muốn anh ta cưới người con gái khác, nhưng anh nhất định muốn lấy Nadia và từ đó bà ta bắt đầu thù ghét cô ấy. Mẹ của Farid luôn nguyền rủa, chửi mắng cô ta và tạo mọi lý do để Farid chống đối với Nadia. Theo ý kiến của tôi thì Farid là tội phạm, vì anh ta không tìm ra được sự giải quyết ổn thỏa giữa người vợ và mẹ mình. Farid cũng xác nhận điều này, anh nói là giữa anh và Nadia không có vấn đề gì, chỉ có cô ta và mẹ anh thường xuyên kình cãi với nhau. Anh tiếp: Khi cha tôi chết tôi mới có hai tuổi, mẹ tôi đã nuôi nấng tôi với bao cực nhọc, thật sự cuộc hôn nhân giữa tôi và Nadia có nhiều trở ngại. Tôi không muốn làm điều gì để họ cảm thấy khó chịu. Với truyền thống của người Afghanistan, thì người vợ sẽ trở thành một thành viên trong gia đình chồng, cho nên Nadia không còn sự chọn lựa nào khác là phải sống chung với mẹ chồng, bởi vậy đã sinh ra sự căng thẳng giữa mẹ chồng và nàng dâu. Farid nói với hai dòng nước mắt: Tôi có một mái nhà, có vợ và một đứa con, tôi thật sự quá hạnh phúc tôi không muốn mất nó. Nếu thật sự  Nadia chết vì cái tát của bàn tay nhỏ bé này, thì hãy giết tôi đi, tôi sẽ chặt đứt cánh tay tôi, anh nói vừa dứt lời thì bỗng dưng ngất xỉu. Theo dõi trong thời gian Farid bị giam giữ trong tù, thì có lần anh đã tự vận bằng chích dầu lửa của lò sưởi trong tù vào mạch máu của mình. Anh ta đã được đưa vào bệnh viện cứu sống và hiện giờ đang được chăm sóc. Mẹ của Farid vẫn còn giam giữ vì tôi đồng lõa trong cái chết của Nadia, bà ta luôn từ chối các cuộc phỏng vấn của IWPR. Mặc dù hiện nay tình trạng quá xấu và phức tạp của chế độ Taleban, với trào lưu chính thống của đạo giáo và những sự tàn bạo khác nhau đang xảy ra ở Herat. Tuy nhiên Herat đã có một quá khứ thi ca huy hoàng, huyền bí và thơ mộng. Điều này là một phần quan trọng tạo nên trong lịch sử  thi ca, bởi vậy nơi đây đã mọc lên một nhà thơ như Nadia Anjuman. Một lần nữa Christena Lamb nói: Triều đại vàng son của Herat dưới thời Nữ Hoàng Queen Gowhar Shad, bà là vợ ông Shah Rukh con trai út của vua Tamerlane. Tên tuổi của Nữ Hoàng thời đó ở Herat rất quan trọng, nhưng thời đó các nước Phương Tây ít ai biết đến tên tuổi của bà. Bà đã sử dụng quyền lực của người chồng để gây một ảnh hưởng rộng lớn vì lãnh thổ của chồng bà kéo dài từ Thổ Nhị Kỳ đến Trung Hoa. Bà đi tìm kiếm những kiến trúc sư tài giỏi để thực hiện dự án kiến trúc giống như kiểu kiến trúc xưa cổ Musalla. Bà cũng tài trợ và bảo lãnh những họa sĩ, những người viết chữ đẹp và những nhà thơ, nhà văn có khuynh hướng lãng mạn viết bằng ngôn ngữ Ba Tư, mặc dù người Timurids chính bản thân họ nói tiếng Thổ Nhị kỳ. Ông Abdur Rahman Jami là một trong số những người cộng tác viên của bà là một nhà thơ Ba Tư nổi tiếng với nhiều bài thơ đã được phổ biến rộng rãi với thể loại tình cảm theo nhịp điệu Ghazala và Couplest... Những người Afghanistan đã nghĩ gì về Nadia Anjuman? Cô ta đã được nhiều người thương mến, kính trọng và thương tiếc. Đám tang của cô ở Herat đã có hằng ngàn người tham dự. Mặc dù còn nhiều bài thơ khác của Nadia Anjuman để chia sẻ với mọi người, nhưng đành phải tạm dừng, nếu có dịp chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu thêm những bài thơ khác của Nadia Anjuman, nhà thơ nữ anh hùng dám đứng lên phá xiềng xích, gông cùm của chính quyền tàn bạo Taliban xứ Afghanistan.

____________________________________________

Tài liệu dịch từ bài viết của Michael R. Burch.
Đề tài nghiên cứu: Institute for War Peace Reporting Afghan Recoverry Report Arts. Telegraph Wikipedia CBC Arts The Australian Philobiblion Sunday Times Christina Lamb

 

 

 

Last modified on 01/17/2009 8:00 PM © 2004 2009 www.thotanhinhthuc.org.

MỤC LỤC