325 TÁC GIẢ TRƯỜNG CA VIỆT NAM
Đỗ Quyên

 

 
 

 

 

 

mm

Tuyển tập trường ca (Nxb. Quân đội nhân, 1997)

 

I) LỜI DẪN CỦA TRẦN THIỆN KHANH:

“Đỗ Quyên và trường ca Việt Nam
Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, sự quan tâm đến nó, cả ở phương diện văn học sử lẫn lí luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ. Cho đến nay mới chỉ có “Tuyển tập trường ca” (Nxb. Quân đội nhân dân, 1997) là cung cấp được cho độc giả một cái nhìn tập trung về văn bản thể loại này. Trong Lời nói đầu của tuyển tập đó các tác giả biên soạn nhận định: “Trường ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ (…) mười trường ca được tuyển chọn trong cuốn này (…) là những trường ca tiêu biểu cả về nội dung lẫn hình thức cũng như bối cảnh lịch sử tác phẩm ra đời”. Như vậy số lượng trường ca được chú ý ở đây còn ít, lại chủ yếu là các trường ca sáng tác trong khoảng 30 năm, tính từ Bài thơ Hắc Hải (1955) của Nguyễn Đình Thi đến Gọi nhau qua vách vúi (1987) của Thi Hoàng. “Vùng trường ca” đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này.
Nhìn từ những yêu cầu, đòi hỏi như thế, chúng tôi xin giới thiệu những nỗ lực tìm hiểu khái quát các “hiện tượng trường ca” từng xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Đỗ Quyên. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, chính anh cũng là một tác giả tiêu biểu trong việc tìm tòi thể nghiệm cách tân trường ca ở nước ngoài (đã sáng tác 13 trường ca, 5 bài thơ dài). Cuộc lục khảo và hệ thống hóa có quy mô lớn lần đầu tiên về các hiện tượng trường ca này có thể xem là cuộc đi khai vỡ thêm những miền đất mới đầy hào hứng của anh, đồng thời cũng là sự trở về vùng đất quen thuộc của người trong cuộc giàu tâm huyết. Hy vọng, sau dịp này, tác giả Đỗ Quyên sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt thành hơn nữa của nhiều tác giả, độc giả.” (vanhocquenha.vn 16/9/2010)
 

II) MỘT SỐ DANH SÁCH VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM THEO QUAN NIỆM MỚI:

Cùng tác giả và độc giả gần xa!

Đây đang là sơ khởi cho một đề tài không dễ dàng, và có lẽ là lần đầu tiên về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”.

Mời xem một số bài cần thiết gần đây về vấn đề trường ca nói chung và trường ca Việt Nam nói riêng:

-“Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt;Đỗ Quyên,Tạp chí Sông Hương, số 257, tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010)

- “Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại”; Phỏng vấn của Trần Thiện Khanh, Tạp chí Thơ số 11/2009, và vanhocquenha.vn 17/9/2010

- “Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại”; Diêu Thị Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2009, và  vienvanhoc.org

- “Những thể loại văn vần có dung lượng lớn như là tiền đề của tư duy về hình thức”; “Các tiểu tự sự - các tác phẩm mang hơi hướng hậu hiện đại” (Trích bản thảo luận án); Diêu Thị Lan Phương, Đại học Quốc gia Hà Nội

- “Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam(Tóm tắt luận án);Nguyễn Thị Liên Tâm, phongdiep.net 3/9/2010

- “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”; Nguyễn Văn Dân, Tạp chí Sông Hương số 230, tháng 4/2008, tapchisonghuong.com.vn 16/4/2008

­- “Đôi nét về trường ca những năm gần đây từ góc nhìn thể loại”; Lưu Khánh Thơ, vannghequandoi.com.vn 22/5/2010

- “Trường ca hôm nay viết về thời đánh Mỹ”; Nguyễn Thanh Tú, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 705 đầu tháng và 27 cuối tháng 12/2009, vannghequandoi.com.vn  4/1/2010

­- Trường ca Việt, một cách nhìn...”; Yến Nhi, vanchuongviet.org 27/1/2010

- Tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái; Nguyễn Minh, viet-studies.info 15/6/2009

- “Thanh Thảo với trường ca”; Chu Văn Sơn, vietvan.vn

Nói về số lượng, kể từ thời Thơ Mới tới nay, con số chúng tôi đang có được là khoảng 325 tác giả Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài mang ý nghĩa tương đương trường ca, với tổng số 716 tác phẩm. Một cách tương đối, có thể xem Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng Tiếng địch Sông Ô ra đời năm 1935, và mới nhất, vào tháng 9/2010, là Nguyễn Trọng Văn với Tổ quốc - đường chân trời (Nxb Quân đội nhân dân).

Các yếu tính nghệ thuật của thể loại để khu biệt “trường ca” giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lí luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới. Có lẽ, nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi - già xưa nhất, tươi lạ nhất - của Người Mẹ Văn Chương.

Bằng quan niệm mới về thể loại, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân loại không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, chúng tôi thử đề nghị một số tiêu chí, trong khi thành lập danh sách cũng như phân định, phê bình các tác phẩm liên hệ.

Với trường ca, và các loại hình tương tự (anh hùng ca, sử thi, ngâm khúc, diễn ca, trường thi…) thường không khó khăn lắm để nhận dạng qua cấu trúc và dung lượng, dù được viết theo khuynh hướng nào: cổ điển, hiện đại, hay hậu hiện đại. Riêng với thơ dài có tính trường ca – điểm mới của nghiên cứu này – quả là không dễ dàng định vị! Đến nay, trong tổng số 325 tác giả, có 251 tác giả trường ca và 74 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2 tác phẩm có tính trường ca. (Mời coi Danh sách 1a dưới đây).

Trong khi khảo sát, chúng tôi coi trường ca và thơ dài có ý nghĩa tương đương là các loại hình văn vần - trừ truyện thơ - mang dung lượng lớn với tính chất tự sự hay trữ tình, có hay không có cốt truyện, câu chuyện. Ở các sáng tác đó, tính trường ca được thể hiện hài hòa qua: Thể tài: mang tinh thần và nội dung không như của từng cá thể, hay giữa các cá thể, mà nâng lên giá trị cộng đồng trong một chủ đề nhân văn nhất định có ý nghĩa xã hội rộng lớn. (Đây nên được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật trường ca!); Cảm hứng: ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu; Giọng điệu và tư duy: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn; Cấu trúc và thủ pháp: thường sử dụng một số hình thức, kỹ thuật sáng tác của “trường ca chuẩn tắc” (chương/khúc/đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập, v.v…); Dung lượng: Khoảng 750 chữ trở lên (có thể ít hơn, tùy ý nghĩa từng bài).

Và chúng tôi mạnh dạn dùng một tên gọi mới, không mang tính thể loại mà có ý biểu tượng, như một sự “vinh danh”: Tiểu trường ca. Đó là các thi phẩm có: Dung lượng hơn một bài thơ bình thường; Thi pháp mang tính trường ca; Tác giả đã quen thuộc; Và nhất là, từng tạo tiếng vang trong dư luận xã hội và môi trường văn học, mang dấu ấn thời đại.

Do lấy tính trường ca làm đích, ở đây cũng phân biệt hai loại: thơ dài có tính trường ca và thơ dài không có tính trường ca.

Trong thời gian sắp tới, sẽ công bố những danh sách bổ trợ:

DANH SÁCH SỐ 1: TÁC GIẢ - TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM
DANH SÁCH SỐ 2: NHỮNG BÀI THƠ NHƯ LÀ "TIỂU TRƯỜNG CA" VIỆT NAM
DANH SÁCH SỐ 3: TÁC GIẢ THƠ DÀI TIÊU BIỂU VIỆT NAM

Ngoài một số ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi là các trang mạng; một phần vì hiếm có cơ hội cập nhật sách báo in ấn ở Việt Nam. Thành thật xin lỗi về thiếu sót, nhầm lẫn chắc sẽ có ở mọi mặt (tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản…), nhất là với các tác giả, tác phẩm trường ca đã xuất bản mà danh sách chưa có được!

Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả có tính trường ca Việt Nam. Các ý tưởng, thảo luận và bài vở thích hợp – khi được người gửi đồng thuận - có thể tham gia làm nội dung của cuốn sách dự tính mang tên “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”.

Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của các tác giả và độc giả, các thi sĩ và nghiên cứu gia, ở trong và ngoài nước, cũng như những báo chí, trang mạng đã và sẽ giới thiệu danh sách này. Xin ghi nhận tấm thịnh tình từ: Các bạn văn đầu tiên đã đọc và cổ vũ, như nhà lý luận-phê bình Trần Thiện Khanh; các nhà thơ Khế Iêm, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Đức Tùng; Các nhà thơ, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Anh Nông, Diêu Thị Lan Phương, Đặng Tiến Huy, Duy Phi, Nguyễn Trọng Văn, Trần Nhuận Minh, cùng nhiều tác giả, độc giả khác đã có những thông tin, trao đổi quý báu kể từ sau danh sách đầu tiên (7/7/2010) được công bố, mà đáng kể nhất là có được 30 tác giả cùng khoảng 50 tác phẩm nhờ tham khảo thống kê của nhà nghiên cứu-phê bình Mai Bá Ấn. Đặc biệt, nhà thơ Trần Quốc Minh đã nhiệt thành giới thiệu nhiều tác giả, công phu cung cấp các tác phẩm cần thiết, khi đại diện cho chúng tôi liên lạc với các tác giả ở Hải Phòng - một vùng đất sản sinh “trường phái thơ Hải Phòng”, trong đó có dòng trường ca đặc sắc với khoảng 26 tác giả mà cuốn sách sẽ dành sự quan tâm cần thiết.

Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên, email: truongcaviet@yahoo.com

Trân trọng

DANH SÁCH 1A
TÁC GIẢ TRƯỜNG CA VIỆT NAM
- Cập nhật 29/11/2010 -

(Tên in nghiêng: Tác giả chỉ viết thơ dài có tính trường ca)

 

  1. Thụy An
  2. Trần Xuân An
  3. Duyên Anh
  4. Đặng Nguyệt Anh
  5. Hoài Anh
  6. Vương Anh
  7. Nguyễn Đình Ảnh
  8. Việt Ánh
  9. Nguyễn Lương Ba
  10. Nguyễn Bá
  11. Ngọc Bái
  12. Lê Ngọc Bảo
  13. Phan Thị Bảo
  14. Nguyễn Nguyên Bẩy
  15. Nguyễn Thị Bích
  16. Nguyễn Thị Thanh Bình
  17. Nguyễn Trung Bình
  18. Lê Bính
  19. Nguyễn Bính
  20. Nguyễn Đức Bính
  21. Nguyễn Trọng Bính
  22. Thu Bồn
  23. Nhã Ca
  24. Thái Can
  25. Hoàng Cát 
  26. Văn Cao
  27. Đào Cảng
  28. Hoàng Cầm
  29. Huy Cận
  30. Nguyễn Quốc Chánh
  31. Trúc Chi
  32. Nguyễn Việt Chiến
  33. Phan Đức Chính
  34. Vũ Trung Chính
  35. Vũ Thành Chung
  36. Kim Chuông
  37. Nguyễn Văn Chương
  38. Vũ Hoàng Chương
  39. Hoàng Trần Cương
  40. Trúc Cương
  41. Võ Bá Cường
  42. Võ Tấn Cường
  43. Đoàn Văn Cừ
  44. Trần Dần
  45. Miên Di
  46. Nguyễn Đình Di
  47. Xuân Diệu
  48. Nguyễn Văn Dinh  
  49. Phạm Tiến Duật
  50. Trương Thị Kim Dung
  51. Lê Anh Dũng
  52. Thế Dũng 
  53. Trần Tiến Dũng
  54. Khương Hữu Dụng
  55. Hồ Đắc Duy
  56. Nguyễn Duy
  57. Lưu Trùng Dương
  58. Trần Trung Đạo        
  59. Lê Đạt
  60. Văn Đắc
  61. Hà Thanh Đẩu
  62. Khuất Đẩu 
  63. Nguyễn Khoa Điềm
  64. Trinh Đường
  65. Nguyễn Hoàng Đức
  66. Nguyễn Quí Đức
  67. Kiên Giang
  68. Lam Giang
  69. Phan Trường Giang
  70. Thái Giang
  71. Đoàn Huy Giao
  72. Hà Giao
  73. Tế Hanh
  74. Nguyễn Xuân Hanh
  75. Thúc Hà
  76. Nguyễn Hưng Hải
  77. Phan Tấn Hải
  78. Nguyễn Thị Lâm Hảo
  79. Trần Mạnh Hảo
  80. Phan Nhiên Hạo
  81. Nguyễn Trung Hậu
  82. Đặng Hiển
  83. Trần Quang Hiển
  84. Vũ Hiển  
  85. Ngọc Hiền
  86. Nguyễn Tôn Hiệt
  87. Nguyễn Hiếu 
  88. Ngọc Thiên Hoa
  89. Đông Hoài
  90. Trịnh Bửu Hoài
  91. Nguyễn Chí Hoan
  92. Lưu Quốc Hòa
  93. Nguyên Hồ
  94. Trần Ninh Hồ
  95. Nguyên Hồng
  96. Nguyễn Thị Hồng
  97. Luân Hoán
  98. Phan Hoàng 
  99. Thi Hoàng
  100. Trần Nghi Hoàng
  101. Xuân Hoàng
  102. Đặng Tiến Huy
  103. Nguyễn Thành Huy  
  104. Đinh Nho Huề
  105. Cầm Hùng (Thái)
  106. Đinh Hùng
  107. Văn Công Hùng
  108. Lưu Đình Hùng
  109. Vũ Hùng
  110. Vũ Trọng Hùng
  111. Đặng Đình Hưng
  112. Hoàng Hưng
  113. Vũ Xuân Hương
  114. Tố Hữu        
  115. Trần Công Hữu
  116. Inrasara
  117. Đỗ Kh.
  118. Dương Tam Kha
  119. Đào Anh Kha
  120. Ngô Kha
  121. Nguyễn Thụy Kha
  122. Phùng Văn Khai
  123. Trần Tuấn Khải
  124. Nguyễn Minh Khang
  125. Cao Vị Khanh
  126. Vũ Anh Khanh
  127. Cao Đông Khánh
  128. Tạ Kim Khánh
  129. Bích Khê 
  130. Nguyễn Minh Khiêm
  131. Nguyễn Linh Khiếu
  132. Trần Đăng Khoa
  133. Trần Khoái
  134. Dương Kiền
  135. Huyền Kiêu
  136. Trần Tuấn Kiệt
  137. Đỗ Trung Lai
  138. Nguyễn Thị Ngọc Lan 
  139. Yến Lan
  140. Bàng Bá Lân
  141. Huyền Lam
  142. Nguyễn Viết Lãm
  143. Mã Giang Lân
  144. Mạnh Lê
  145. Du Tử Lê
  146. Văn Lê
  147. Vĩnh Quang Lê
  148. Tam Lệ
  149. Nguyễn Gia Linh
  150. Vi Thuỳ Linh
  151. Viên Linh
  152. Hữu Loan
  153. Thái Thăng Long
  154. Vân Long
  155. Lê Xuân Lợi
  156. Lưu Trọng Lư
  157. Trần Lưu
  158. Trần Vũ Mai
  159. Thế Mạc
  160. Nguyễn Đức Mậu
  161. Lê Thị Mây
  162. Dương Kiều Minh  
  163. Hồng Minh
  164. Nguyễn Hữu Hồng Minh
  165. Nguyễn Nhật Minh
  166. Trần Quốc Minh  
  167. Trần Hồng Minh
  168. Trần Nhuận Minh
  169. Vũ Đình Minh
  170. Nguyễn Thanh Mừng
  171. Giang Nam
  172. Liên Nam
  173. Ngô Quang Nam
  174. Đặng Ngọc Nga
  175. Phạm Ngà
  176. Nh. Tay Ngàn
  177. Anh Ngọc
  178. Lữ Huy Nguyên
  179. Ma Trường Nguyên
  180. Vĩnh Nguyên
  181. Uyên Nguyên
  182. Đào Nguyễn
  183. Dung Nham
  184. Nguyễn Quang Nhật
  185. Nguyễn Hữu Nhật
  186. Tô Nhuần
  187. Trần Nhương
  188. Vũ Đình Ninh
  189. Nguyễn Anh Nông
  190. Đỗ Xuân Oanh
  191. Điền Ngọc Phách
  192. Chu Ngọc Phan
  193. Nguyễn Nhược Pháp
  194. Mai Văn Phấn 
  195. Duy Phi
  196. Bùi Huy Phồn
  197. Ngô Văn Phú
  198. Nguyễn Khắc Phục
  199. Hoài Quang Phương
  200. Lê Duy Phương
  201. Nguyễn Bình Phương    
  202. Nguyễn Nhuận Hồng Phương
  203. Trúc Phương
  204. Trung Phương
  205. Thái Viễn Phương
  206. Viễn Phương
  207. Việt Phương
  208. Y Phương
  209. Lê Huy Quang (a)
  210. Lê Huy Quang (b)
  211. Đỗ Trung Quân
  212. Phùng Quán
  213. Thường Quán
  214. Phan Quế  
  215. Thanh Quế
  216. Bùi Minh Quốc
  217. Lê Anh Quốc
  218. Lê Minh Quốc
  219. Đỗ Quyên
  220. Hoàng Quý
  221. Nguyễn Hữu Quý
  222. Phạm Thái Quỳnh
  223. Xuân Quỳnh
  224. Nguyên Sa
  225. Trần Vàng Sao
  226. Trần Hải Sâm
  227. Huyền Sâm
  228. Phạm Sỹ Sáu
  229. Lê Ái Siêm
  230. Lê Quang Sinh
  231. Băng Sơn
  232. Nguyễn Minh Sơn
  233. Nguyễn Thái Sơn
  234. Trịnh Sơn
  235. Lê Vĩnh Tài 
  236. Ngô Văn Tao
  237. Nguyễn Văn Tao 
  238. Nguyễn Trọng Tạo 
  239. Vương Tâm
  240. Kiệt Tấn
  241. Lê Đại Thanh
  242. Tô Ngọc Thạch
  243. Trần Anh Thái
  244. Hoàng Chiến Thắng
  245. Mai Nam Thắng
  246. Trần Thị Thắng
  247. Đặng Thân
  248. Thanh Thảo
  249. Lê An Thế 
  250. Nguyễn Đình Thi 
  251. Quỳnh Thi
  252. Xuân Thiêm
  253. Ôn Quang Thiên
  254. Nguyễn Xuân Thiệp
  255. Nguyễn Quang Thiều
  256. Trương Thìn
  257. Hữu Thỉnh
  258. Huy Thông
  259. Anh Thơ
  260. Huệ Thu
  261. Lê Anh Thu
  262. Dương Thuấn
  263. Sương Biên Thùy
  264. Đinh Thị Như Thúy
  265. Nguyễn Quang Thuyên
  266. Phạm Thiên Thư
  267. Nguyễn Đăng Thường
  268. Trần Mạnh Thường
  269. Nguyễn Vũ Tiềm
  270. Nguyễn Trọng Tín
  271. Nguyễn Quang Tính
  272. Từ Nguyên Tĩnh
  273. Nguyễn Khánh Toàn
  274. Nguyễn Thanh Toàn
  275. Thành Tôn
  276. Nguyễn Hoàng Tranh
  277. Nam Trân
  278. Trần Huyền Trân
  279. Nguyễn Hương Trâm
  280. Nguyễn Trác
  281. Hưởng Triều
  282. Đông Trình
  283. Hoàng Bình Trọng
  284. Vương Trọng
  285. Nguyễn Xuân Trường
  286. Phạm Xuân Trường
  287. Phạm Công Trứ
  288. Võ Văn Trực
  289. Đỗ Minh Tuấn
  290. Hoàng Anh Tuấn
  291. Hoàng Ngọc Tuấn
  292. Lê Nghĩa Quang Tuấn
  293. Nguyễn Như Tuấn
  294. Thanh Tùng
  295. Minh Tuyền
  296. Thanh Tâm Tuyền
  297. Trần Dạ Từ    
  298. Lưu Xuân Tự
  299. Dương Tường 
  300. Phạm Nguyên Tường
  301. Vũ Xuân Tửu
  302. Kiều Văn
  303. Nguyễn Trọng Văn
  304. Lê Thị Thấm Vân
  305. Chế Lan Viên  
  306. Nguyễn Hữu Viện
  307. Bùi Chí Vinh
  308. Đỗ Vinh
  309. Nguyễn Thế Vinh
  310. Trần Thế Vinh
  311. Tất Vinh
  312. Ngân Vịnh
  313. Lê Văn Vọng
  314. Nguyễn Bùi Vợi
  315. Anh Vũ
  316. Lưu Quang Vũ
  317. Phan Vũ
  318. Tạ Vũ
  319. Vũ Anh Vũ
  320. Trần Hoàng Vy
  321. Lê Anh Xuân
  322. Lý Hoài Xuân
  323. Tạ Hữu Yên
  324. Ngu Yên
  325. Tô Thùy Yên

[Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”]
Vancouver – cập nhật 29/11/2010

 

 

Last modified on 11/30/2010 8:00 PM © 2004 2010 www.thotanhinhthuc.org.