VIỆTNAMESE NEW FORMALISM POETRY

By Angela Saunders

Translated by Tunisia

 

 
 

 

 

 

Lời người dịch: Phong trào thơ tân hình thức Việt, theo tôi biết, được khởi xướng vào mùa Xuân năm 2000, trên Tạp chí Thơ, xuất bản tại Orange, California. Đến năm 2006, tuyển tập “Blank Verse, An Anthology of Vietnamese New Formalism Poetry” (Thơ Không Vần, Tuyển Tập Tân Hình Thức) xuất bản, bao gồm 64 tác giả. Mục đích của tuyển tập là tìm kiếm người đọc Việt thế hệ thứ hai và giới thiệu thơ Việt tới những người đọc Mỹ. Bài viết ngắn gọn dưới đây đã nói lên đầy đủ thông điệp mà tuyển tập muốn gửi.

 

 

 

 


Tuần này tôi có cơ hội được trầm mình trong “Không Vần, Tuyển tập thơ tân hình thức Việt”.

Viết bằng cả tiếng Việt và Anh, tôi nhận ra sự hấp dẫn bởi những dòng thơ trong tuyển tập, tưởng như mới lần đầu đọc thơ. Chìm đắm trong bài ca, như những vần thơ diễn đạt tự nhiên sự phấn đấu, sợ hãi, hy vọng và những giấc mơ di dân trong một thế giới mới, nhớ lại một thời.

Thơ có thể là một phương cách truyền khẩu mạnh mẽ từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp. Nhịp điệu và âm thanh của bài thơ cung cấp những phương tiện truyền đạt và ghi nhớ. Nhưng âm thanh lại thuộc dạng chuyên biệt của ngữ học, lưu chảy trong ngôn ngữ mẹ đẻ và trở thành lộn xộn khi dịch sang một ngôn ngữ khác. Bài thơ phổ những giai điệu và giọng điệu từ tiếng mẹ, đánh mất đi sự hấp dẫn mỹ học khi phiên dịch. Do vậy, sự rắc rối hiện ra. Trong một xã hội càng ngày càng chuyển động, làm sao vượt qua hàng rào văn hoá, ngôn ngữ và khoảng cách thế hệ mà vẫn bảo tồn được di sản truyền thống? Với cộng đồng tị nạn Việt, cần tạo ra thể thơ mới, để có tiếng nói trong thế giới văn học. Từ nhu cầu này, nổi lên phong trào thơ tân hình thức.

Thơ tân hình thức Việt là thể thơ Không vần. Tuy không theo vần truyền thống nhưng lại theo số âm tiết (như thơ 5, 8 chữ, lục bát) ở mỗi dòng thơ và cứ 4 dòng kết thành 1 đoạn thơ. Câu thơ sẽ được vắt xuống dòng dưới khi số âm tiết đã đủ cho mỗi dòng. Điều này có nghĩa, một ý tưởng bắt đầu ở dòng này có thể tiếp tục hoặc ngừng lại bất thình lình ở dòng kế. Đôi khi vắt dòng hay sự ngừng lại xảy ra, làm nổi bật những chữ hay ý tưởng đặc biệt. Cách ngừng bất thường làm tăng tác động cảm xúc và thị giác của bài thơ. Đoạn rút ra từ bài thơ của Dạ Thảo “Nhật Ký Ngày Mưa” chỉ ra kỹ thuật này:

Khi mặt trời khuất sau mây
và mưa bỗng đổ lênh láng
tôi nhớ về những ngày cũ
xưa lẻ loi bước trong mưa

Ngoài cách dùng lại dòng thơ thể luật và vắt dòng, thơ tân hình thức Việt còn tận dụng kỹ thuật lập lại chữ để tạo nhịp điệu dùng trong ngôn ngữ đời thường. Hơn cả việc làm đẹp bài thơ với ngôn ngữ biểu tượng, lập lại chữnhóm chữ tạo ra bài ca, giống như nhịp điệu trong lúc phà đời sống vào những sinh hoạt quen thuộc thường ngày. Tôi phát hiện đây là phần lôi cuốn trong cách đọc này. Những câu hỏi, truyện kể, chuyện đời thường chia sẻ trong tuyển tập có một ý nghĩa sâu sắc, thu hút cảm xúc mà không cần phải đào bới qua ngôn ngữ ẩn dụ và tượng trưng trong những thể loại thơ cổ điển. Điều này làm tăng thêm kinh nghiệm đọc nơi tôi, vì những chữ tự quấn quanh và chuyển tôi tới một nơi chốn và thời gian khác.

Cho dù tuyển tập này tập hợp những bài thơ gây ngạc nhiên, được viết bằng cả hai tiếng Anh và Việt, tôi đã được đánh thức trước một ý tưởng mới, qua bài thơ của Vũ Huy Quang. Một tuyên bố đơn giản, làm thơ là một phần của đời sống, trong khi bận rộn với công việc hàng ngày (tưới cây) nhưng lại mô tả ở phần cuối, “làm thơ cũng phải có… dân chủ”. Quả là một ý tưởng sâu xa mà Khế Iêm cũng đã nhấn mạnh khi ông giải thích, một trong những trở ngại lớn nhất đối với phong trào thơ tân hình thức là “thiếu những người đọc trẻ” ở đây và sự phân phối nền văn học này bị hạn chế ở Việt nam vì sự kiểm soát của nhà nước.

Thơ tân hình thức Việt hơn cả một phong cách làm thơ khác. Sau khi đọc xong tuyển tập này, tôi nhận ra, nó muốn trở thành tiếng nói thoát ra khỏi cộng đồng bức bách để có  được một chỗ đứng trong cộng đồng văn học thế giới.

 

 

 

 

 

Khế Iêm

Tân Hình Thức
Và Câu Chuyện Kể

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen; gãy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm hình cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như
thế thôi thì thế thôi, biết đâu chừng

nhưng người đàn bà và đàn con nheo
nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đã được
kể lại, như người khác đã từng kể
lại, dù chẳng để lại gì ngoài câu

chuyện đã kể, bởi câu chuyện đang tự
kể lại, và không ai, ngay cả người
đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước
ra ngoài câu chuyện đã được kể lại.

Bài thơ đăng với sự đồng ý của tác giả.

 

 

 

 

 

 

Đây cũng là tín hiệu cho thấy, vì khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa, nên nếu muốn người đọc cảm nhận được, thơ cần ngôn ngữ cụ thể để tạo cảm xúc trực tiếp. Hơn nữa, phải có một thể thơ như thế nào để khi chuyển dịch vẫn giữ được nhạc tính của thơ. Như vậy, thơ tân hình thức Việt, với thể thơ Không Vần, có khả thể là một hình thức tốt nhất, đưa thơ vượt ra khỏi những ranh giới về ngôn ngữ.

Angela Saunders là một nhà bình luận, chủ biên thơ (Poetry Editor) cho trang web BellaOnline, the Voice of Women. Bài viết được lấy từ địa chỉ:
 
http://www.bellaonline.com/articles/art30082.asp

 



This week I had the opportunity to immerse myself in "Blank Verse- An Anthology of Vietnamese New Formalism Poetry."

Written in both Vietnamese and English, I found myself absorbing the lines of the poems in this book as if reading poetry for the first time. Immersed in the song-like verses that freely expressed the struggles, fears, hopes, and dreams of immigrants in a new world looking back to another time and place.

Poetry can be a powerful literary method of passing oral accounts from one generation to another. The rhythm and sounds of a poem provide the means of delivery and mnemonic (memory)tools. The difficulty with this is that the sounds are linguistically specific. Sounds that flow in the native tongue of one language becomes muddled in translation into another. A poem set to melodies and tunes in a native tongue lose its asthetic appeal in translation. Thus a conundrum is created. In an increasingly mobile society, how does one bridge the gaps between linguistic, cultural, and generational barriers while preserving traditional heritage? With the Vietnamese being a refugee community, the need to create new forms of poetry that bring rise to the Vietnamese voice in the world of literature. Out of this need arises the New Formalism movement.

Vietnamese New Formalism poetry is a form of blank verse While it does not follow traditional rhymes, it does follow specific numbers of syllables within the verse (often 5-8 words with 6-8 syllables)and are organized into stanzas of four lines. In addition to a patterned number of syllables, the use of enjambments at exact syllable counts regardless of the sentence meaning. This means that a thought that begins on one line may continue or suddenly stop on the next. Sometimes enjambments, or stops, will occur to highlight specific words or thoughts. This unnatural stop pattern often enhances the visual and emotional impact of the poem.
An excerpt from Da Thao's "Diary of a Rainy Day" shows this technique:

when the sun goes behind
clouds and rain starts pouring
down my mind returns to
the old rainy days when

i was lonely, walking........

In addition to the use of metrical lines and enjambments, Vietnamese New Formalism Poetry makes use of word repetitions to create rhythms using everyday language. Rather than embellishing the poems with symbolic language, the poems use repetition of words and phrases to create a song-like rhythm while breathing life into the most routine of daily activities. I personally found this to be a fascinating part of this reading. The questions, stories, and folk tales shared in this anthology were profound in meaning and emotional pull without having to dig through the symbolism and metaphorical language found in classical poetry forms. This enhanced the reading experience for me, since the words wrapped themselves around me and transported me to another time and place.

While this Anthology has an amazing collection of poems written in both English and Vietnamese, I was awakened to a new thought by one particular poem called "Making Poetry Also Requires Democracy" written by Vu Huy Quang. A simple declaration that making poetry is a part of life, while going about everyday activities (watering trees) but with a declaration at the end, that "making poetry also requires..... democracy." Quite a profound thought that was also underlined by Khe Iem when he explained that one of the greatest barriers to the Vietnamese New Formalism Movement is the "lack of young readers" here and that the distribution of this literature is limited in Vietnam by a regulated press and government control.

Vietnamese New Formalism Poetry is more than just another poetic writing style. After reading this anthology, I found it to be a liberated voice of an oppressed community taking their stand in the literary community of the world.



NEW FORMALISM AND A STORY
By Khe Iem
Translated by DoVinh


While I sit sipping my coffee
on the curbside and telling my
story passed down the generations--
telling a story like the one

told by every generation,
about a woman and her sorry
brood (on a corner of a city
known as the place of death, on a

corner known as the place of life),
drawn in by dark lines of charcoal;
broken curves, ugly shadows of
old photographs, like today and

tomorrow and the day after
tomorrow, and that’s about it,
who knows if the woman and her
sorry brood, still telling the story

that has been told by so many
others, nothing different from
the story, the story that tells
itself, even though there is no-

thing beside the story that tells
itself, including the woman
and her sorry brood, stepping out-
side of the story being told.

Poem rewritten with permission from the author.