NHỮNG SẮC DỊ MÀU XÁM

Stanislaw Baranczak

 

 
 

 

 

Nếu chúng ta yêu cầu bất cứ một nhóm phê bình gia Ba-lan nào hôm nay lập những bảng danh sách riêng của họ gồm năm tập thơ quan trọng nhất xuất bản ở Ba-lan trong những năm (19)80, chúng ta có thể chắc chắn rằng mỗi một danh sách trong những danh sách ấy đều bao gồm một hay hai cuốn của Czeslaw Milosz, tập Tường trình từ một thành phố bị bao vây của Zbigniew Herbert và tập Những người ở trên cầu của Wislawa Szymborska (1). Tập A ha của cố thi sĩ Miron Bialoszewski cũng được nhiều giới coi như một trong những chấn động lớn về văn chương, nhưng Bialoszewski, mặc dù đã là một tác giả cổ điển đối với một số người, vẫn còn bị nhiều người coi như quá không-chính thống và phản-thơ để chỉ được đối xử như một kẻ thử nghiệm trong văn chương mà thôi. Ngược lại, danh tiếng thật xứng đáng không kém của Szymborska dường như lại dựa trên một nền tảng đặc biệt chắc chắn là sự chấp nhận của đông đảo mọi người. Ngoại trừ Herbert, có lẽ không có một nhà thơ lớn nào trụ ở Ba-lan lại được hết mọi người trọng kính như thế. Và trong số nhiều nữ thi sĩ thành đạt vẻ vang, từng góp phần vào nền văn chương Ba-lan hiện đại, Szymborska nhất định là người hay nhất.

Sự nghiệp của bà, trải qua suốt thời kỳ hậu chiến, dường như không có gì là sôi nổi, lại càng tỏ ra như thế vì Szymborska cố tình tránh né đời sống công cộng và rất ít khi trực tiếp bình luận về cuộc đời và tác phẩm của riêng bà. Thay vì thế, tiểu sử của bà được đánh dấu bằng sự xuất hiện hiếm hoi của các tập thơ của bà, mỗi tập mỗi lúc một mỏng hơn và hay hơn tập trước. Bà sinh ngày 2 tháng Bảy năm 1923, ở thị trấn Bnin trong vùng Poznan. Từ năm 1931, cuộc đời bà đã nối kết chặt chẽ với thành phố Cracovie, nơi bà học chuyên về văn chương Ba-lan và xã hội học ở Đại học Jagelone từ năm 1945 đến 1948, và cũng là nơi, từ sau năm 1953, bà làm việc với tư cách là người biên tập về thơ cho tờ tuần báo văn nghệ ở địa phương. Bà khởi nghiệp trong báo chí văn chương vào năm 1945, nhưng việc xuất bản tập thơ đầu tiên của bà được dự định vào năm 1948, đã gặp phải một trở ngại chính trị: cuốn sách không chính thống đủ về phương diện ý thức hệ cho thời buổi Stalin. Tập thơ đầu tiên của Szymborska nhan đề Chúng tôi sống vì thế đó chỉ xuất hiện vào năm 1952, kế tiếp là tập Những câu hỏi đặt ra cho bản thân (1954).

Sự cách biệt về ngữ nghĩa giữa những tựa đề này nổi bật: từ một sự chắc chắn như được kế hoạch hóa hàm ngụ trong câu nói tạo thành tựa đề đầu tiên, trong hai năm kế đó thơ của bà đã chuyển sang nỗi lo ngại về tinh thần và sự khắc khoải về đạo đức. Thật vậy, tất cả các bài thơ sau này của bà đều có thể được định nghĩa như những «câu hỏi » tâm tình «đặt ra cho bản thân bà ».Điều này càng lúc càng đúng với những thi tập kế tiếp của bà, mỗi tập lại được giới phê bình hoan nghênh nhiệt liệt hơn nữa: Kêu gọi Yê-ti (1957), Muối (1962), Một triệu tiếng cười (1967) (2),  Hoàn toàn tình cờ (1972), Một số lớn (1976), và cuối cùng là Những người ở trên cầu (1986) (3). Bà cũng đã xuất bản một số những bản dịch thơ Pháp (4) và một tập những bài tùy bút ngắn, hài hước về nhiều cuốn sách không có tính cách văn chương, mang tựa là Bài đọc nhiệm ý (1973).

Là một khuôn mặt riêng tư khác thường giữa các nhà văn Ba-lan, Szymborska tuy vậy vẫn tỏ thái độ về chính trị khi cần: năm 1977 bà ở trong số những nhà trí thức thiết lập «Đại học Bí mật », và từ khi có thiết quân luật bà vẫn nhất quyết từ khước, không chịu nhận những giải thưởng của Nhà nước. Tác phẩm của bà đã được phiên dịch rộng rãi qua nhiều thứ tiếng; tới nay là cũng đã nhiều năm bà được xứ này (Hoa-kỳ) đọc và cảm phục, chính yếu là nhờ sự xuất hiện vào năm 1981 của tập Sounds, Feelings, Thoughts (Âm thanh, cảm, nghĩ), một tuyển tập song ngữ gồm bảy mươi bài thơ của bà.

Những người ở trên cầu, thoạt nhìn, không có gì là khác thường trong khung cảnh các tác phẩm của Szymborska: nó vẫn tiếp tục theo đuổi những đường nét về đề tài, triết lý, và bút pháp đã khởi sự và được khai triển trong các tập thơ trước của bà. Tuy nhiên, về nhiều phương diện, đây cũng là thành quả hoàn hảo nhất, điểm cao nhất trong sự nghiệp đã «bay cao » của bà. Chỉ bao gồm hai mươi hai bài thơ và xuất hiện sau một khoảng trống vắng mười năm, thi tập này sau chót đã tinh luyện cái phương pháp sáng tác tiêu biểu của Szymborska: xây dựng một bài thơ như một thẩm định hài hước phức tạp cao độ thoát thai từ một nhận xét quá ư là đơn giản.

Chính xác hơn, có thể mô tả việc xây dựng hợp lý của một bài thơ Szymborska tiêu biểu như một quá trình có ba phần. Bước đầu tiên là một nhận xét bình thường về một sự kiện nào đó. Bước thứ nhì là một sự chống đối đột nhiên và cố ý, một thứ «đồng ý, thế nhưng... » như thể đầu óc chấp nhận sự kiện nọ nhưng đồng thời cũng ý thức những hậu quả hợp lý bất ngờ. Bước thứ ba gồm có tìm ra một phương thế đặc biệt nào đó về bút pháp có thể lột trần sự chống đối chung giữa nhận xét ban đầu với cái kế tiếp hợp lý — nhưng bất ngờ của nó, và như thế biểu lộ cái hài hước nội tại trong sự xung đột của chúng. Điều quan trọng là cả hai bước đầu và bước thứ nhì tạo thành một quá trình đầu óc sơ đẳng phù hợp với phạm vi suy tưởng thường ngày của một cá nhân trung bình. Chỉ có bước thứ ba là đóng góp độc nhất của nhà thơ. Nói cách khác, Szymborska khám phá ra những điều hài hước có thể được bất kỳ ai khám phá. Chính cái cách thức bà sử dụng để tăng cường những điều hài hước này và khiến người đọc chú ý tới chúng đã cho thấy tính cách sáng tạo và tài hoa độc đáo của bà.
Thí dụ hay nhất về kỹ thuật này là bài thơ «Giữa ánh sáng ban ngày ». Nhận xét châm ngòi cho phản ứng dây chuyền hợp lý ở đây (và là điều vẫn chỉ được gián tiếp hàm ý trong suốt bài thơ) tiếp cận một điều hiển nhiên: nhà thơ Krzysztof Kamil Baczynski chỉ mới được hai mươi ba tuổi khi ông chết, cái chết của một người anh hùng trong cuộc Nổi dậy của Vac-xa-va năm 1944. Một thứ «đồng ý, thế nhưng... » tiếp theo đó: Đồng ý, thế nhưng chuyện gì sẽ xẩy ra cho ông nếu như ông còn sống? Ông sẽ trở thành loại người nào ở Ba-lan hậu chiến? Liệu ông có còn là một vị anh hùng nữa chăng?

Ở đây bài thơ thực sự bắt đầu. Nó mô tả chân dung một nhà thơ đã già (tên ông, Baczynski, chỉ được tiết lộ ở phần sau bài thơ), chẳng qua chỉ là một người đã có tuổi, bình thường, ngồi trong phòng ăn của một nhà hưu dưỡng do nhà nước tài trợ ở Zakopane và chẳng thu hút được sự chú ý của một ai. Sự khám phá thi ca ở đây không phải chỉ nằm trong nét cụ thể nổi bật về phương diện xã hội và thể chất của bức chân dung này mà còn nằm trong cái mà Roman Jacobson từng gọi là «thơ của văn phạm»: trong suốt bài thơ, những dạng chỉ «điều kiện cách » (conditional) được nhấn mạnh thêm nhờ cách sắp đặt chúng trong những khóm thơ mỗi lúc một nhiều hơn, để cuối cùng bao trùm phần kết thúc của bài thơ. Câu trả lời cho vấn nạn «Baczynski sẽ ra sao nếu như ông còn sống sót?» chỉ được đưa ra trong «điều kiện cách» - nhưng, hài hước thay, chính cái hồi trống điều kiện cách này lại đem lại cho câu trả lời cái sức nặng của một phán quyết không thể cải hồi được nữa:

Trong lúc chờ người ta dọn cho ông tô mì, có lẽ ông sẽ đọc một tờ báo thời nay,
những hàng tựa khổng lồ, những dòng quảng cáo in nhỏ xíu,
hay gõ mấy ngón tay ông trên tấm khăn bàn trắng, và đôi bàn tay ông có lẽ
lúc này cũng đã được sử dụng lâu ngày,
với làn da nứt nẻ và những đường gân phồng lên.

Đôi khi có lẽ có ai đó sẽ
réo lên từ lối cửa vào: «Ông Baczynski, có người gọi dây nói cho ông»
và có lẽ cũng chẳng có gì là lạ về chuyện đó
về ông, về việc ông đứng dậy, sửa lại cho ngay ngắn chiếc áo ấm,
và chậm rãi tiến về phía cửa.

Trước cảnh tượng này có lẽ không một ai sẽ
ngừng nói, có lẽ không một ai sẽ
sững lại trong một cử chỉ nửa chừng, một hơi thở nửa chừng
là vì cái chuyện tầm thường này có lẽ sẽ
bị mọi người coi như - đáng tiếc thay
một chuyện tầm thường.

Bất kể những nét nhạt mờ kín đáo về chính trị của những bài thơ như  «Giữa ánh sáng ban ngày» và bất kể cái viễn cảnh phổ quát của nhiều bài thơ khác trong tập này, Những người ở trên cầu chứng tỏ, một cách thật rõ rệt và không thể nhầm lẫn, Szymborska là một nhà thơ của cá nhân. Nhưng bởi một trong những vấn đề khó chịu nhất chung cho mọi người ở thời đại chúng ta: sự khủng bố của tập thể là chuyện thường xẩy ra, việc Szymborska bênh vực quyền được có một viễn ảnh cá nhân, tự nó đã trở thành một hành động chính trị. Mỗi một bài thơ của bà đảm trách, theo cách riêng của nó, cái nhiệm vụ bảo vệ tính cách độc đáo của cá nhân chống lại tính cách đồng nhất áp đặt, sự tình cờ bất ưng chống lại quy định thuyết, cái cụ thể của cuộc đời chống lại sự trừu tượng của thời gian, cái ngoại lệ chống lại luật tắc, quyền được hoài nghi chống lại sự quá tự tin mù quáng của không tưởng. Ở một trong những bài thơ ấy, bà đảm nhiệm vai trò của một ông Noé hiện đại; hơn nữa, tác phẩm của bà đã trở thành con tầu Noé, bằng con tầu đó, ít nhất những kiểu mẫu của những giá trị cá nhân này cũng có thể được cứu thoát khỏi cơn hồng thủy của đồng nhất tính:

Một cơn mưa nặng hạt vừa mới bắt đầu.
Hãy vào tầu Noé, chứ còn đi đâu được nữa:
hỡi các ngươi, những bài thơ để độc xướng,
những hoan hỷ riêng tư,
những tài năng vô dụng,
của lạ thặng dư,
những muộn phiền và âu lo ngắn hạn,
sự hăm hở nhìn sự vật từ sáu cạnh.

Những dòng sông đang dâng lên và tràn bờ.
Hãy vào tàu Noé: tất cả các ngươi, những nét tỏ mờ và những sắc độ dịu êm,
các ngươi, những chi tiết, những đồ trang trí, và những cơn bốc đồng,
những ngoại lệ xuẩn ngốc,
những ký hiệu đã bị lãng quên,
vô số những sắc dị của màu xám...

Sở dĩ con tầu Noé này chuyển động được, đó là vì cánh buồm của nó là sự hài hước thi ca. Nhiều nhà phê bình đã vạch ra rằng cái hài hước của Szymborska xuất hiện dưới nhiều sắc dị, «vô số những sắc dị của màu xám ». Tuy nhiên, thật ý nghĩa là cái khoảng cách hài hước ấy, dầu cho dạng thức chuyên biệt và nồng độ của nó là gì chăng nữa, ở đây bao giờ cũng được sử dụng như một vũ khí để bênh vực các quyền của cá nhân được giữ tính cách độc đáo, được hoài nghi, và bất đồng ý. Điều này đặc biệt có thể nhận thấy trong những bài thơ nọ của bà, những bài có vẻ như lên án những thái độ này trong lúc thực ra chúng sử dụng một kẻ phát ngôn «lớn lối» mà dáng vẻ trực tiếp đối nghịch với dáng vẻ của tác giả, và mục đích của những bài ấy là khiến chính kẻ phát ngôn kia tự làm mất tín nhiệm nơi mình (và nơi những tin tưởng mà y đại diện) trong dòng độc thoại của y. Đây là trường hợp của bài thơ «Một ý kiến về vấn đề dâm thư (5), trong đó kẻ phát ngôn đầu óc cứng chắc như xi-măng chủ trì với tất cả sự nghiêm trang rằng “không có gì đồi trụy hơn là suy tưởng»:

Không có gì đồi trụy hơn là suy tưởng.
Cái thứ phóng túng này tràn lan như một giống cỏ dại
mà gió đem lại trên một mảnh đất dành cho hoa cúc.

Không có gì là thiêng liêng đối với bọn người suy tưởng.
Trâng tráo gọi mọi sự bằng tên,
những phân tích bạt mạng, những tổng hợp sỗ sàng,
theo đuổi như điên cuồng và phóng đãng những sự kiện trần truồng,
mân mê thật bẩn thỉu những chủ đề dễ kích ứng,
bàn thảo nứng động  ấy nhạc cho lỗ tai bọn họ.

Giữa ban ngày ban mặt hay núp bóng đêm đen
họ quây vòng, tụ ba hay cặp đôi.
Tuổi tác và phái tính của kẻ đối ngẫu không quan trọng.
Con mắt thời nhấp nhoáng, gò má thời đỏ rực.
Bạn bè làm hư hỏng bạn bè.
Những đứa con gái suy thoái làm đồi bại cha chúng.
Một thằng anh giắt mối cho con em nhỏ.

Bọn họ ưa các thứ trái
của cây hiểu biết đã bị cấm đoán
hơn là những cặp mông hồng hồng thấy trong những tờ tạp chí mềm mềm láng mướt
tất cả cái thứ dơ dáy chủ yếu là ngô nghê ấy.
Những cuốn sách họ khoái trá không có hình.
Trò tạp lục của họ nằm trong một vài câu
được đánh dấu bằng móng tay cái hoặc viết chì màu.

Chướng làm sao, những vị thế,
cái giản dị luông tuồng mà một đầu óc sử dụng
để làm thụ tinh một đầu óc khác !
Những vị thế ấy cả đến kinh Kamasutra cũng không biết.

Trong những buổi hò hẹn ấy của họ thứ duy nhất bốc khói là trà.
Bọn họ ngồi trên ghế dựa và mấp máy những vành môi.
Từng người một chỉ vắt tréo ống chân riêng của mình
khiến cho một bàn chân chạm đất
trong lúc bàn chân nọ thong thả đong đưa giữa không trung.
Chỉ thi thoảng mới có ai kia đứng dậy,
bước ra cửa sổ
và qua một khe hở trong lớp màn
lén nhòm ra đường phố.               

Trong những dòng cuối cùng của độc thoại này, kẻ phát ngôn giả đạo đức kia để lộ tẩy cái bản chất thực của thứ «luật lệ và trật tự » mà y ủng hộ: ấy là thực tại của một xứ toàn trị nơi chỉ một việc suy tưởng thôi cũng đã lôi kéo theo sự theo đuổi bắt bớ hành hạ của công an. Cũng một cách thức thuật sự ấy đã mở ra những viễn tượng còn rộng lớn hơn nữa trong bài thơ được dùng làm tựa đề cho toàn tập, «Những người ở trên cầu». Đây là một bài độc thoại của một kẻ thù của nghệ thuật, về sự khuynh đảo bất chính của nghệ thuật đối với trật tự thế giới bằng cách ra sức «chận lại thời gian»:

Bức tranh này nhất định chẳng phải vô tình.
Thời gian đã bị chận lại ở đây.
Các quy luật của nó không còn được xét tới.
Nó đã bị tước bỏ ảnh hưởng đối với dòng diễn biến.
Nó đã bị bỏ quên và nhục mạ.

Vì một tên nổi loạn
một tên Hiroshige Utagawa
(một kẻ, nhân tiện nói qua,
mất đã từ lâu và đúng phép),
thời gian đã vấp ngã.

Trong phản ánh lật ngược của hài hước, những bài thơ như thế tiết lộ những điều xác tín riêng của Szymborska về vai trò của người nghệ sĩ trong xã hội. Trách vụ của người nghệ sĩ không nhằm việc vạch ra đường lối đúng đắn duy nhất, truyền bá những sự thật phổ quát, hoặc xây dựng các thứ không tưởng. Nó chỉ gồm bằng việc «chận lại thời gian» và như thế biểu lộ sự đối kháng cùng kế nhưng không cùng của nhân loại chống lại những thế lực đen tối của hư không.

                                
trích Breathing under Water (Thở dưới nước), Harvard, 1990.

 

_________


1. Wislawa Szymborska sinh ngày 2-7-1923 tại Kórnik trong vùng Poznan (ở phía tây Ba-lan). Năm 1945 theo học văn chương Ba-lan và xã hội học tại đại học Jagelone, Cracovie. Tập thơ đầu tiên của bà được xuất bản năm 1952. Năm 1953, bà trở thành người biên tập thi ca cho tuần báo Sinh hoạt văn chương ở Cracovie. Từ 1952 tới 1986, đã cho in chín tập thơ và một tập tùy bút (1963). Thi phẩm gần nhất của bà mang tựa đề Chấm dứt và bắt đầu (1993). Thơ của bà đã được dịch sang nhiều thứ tiếng, như Anh, Pháp, Đức, Nga, Tiệp, Hung, Hòa-lan,... Bà đã được tặng giải thưởng Goethe của thành phố Frankfurt ngày 28-8-1991, rồi giải Herder của Áo và đến tháng Mười 1996, giải Nobel Văn chương.
2. Trong nguyên tác: Một trăm tiếng cười, nhưng đã được dịch nhiều cách: Một ngàn niềm vui, Một triệu tiếng cười, Vui không dứt...
3. Bài phê bình này in tại Hoa-kỳ vào năm 1987. Tập thơ gần nhất của Wislawa Szymborska: Chấm dứt và bắt đầu (1993).
4. Theo Isabelle Macor-Filarska và Grzegorz Splawinski, đã từ lâu Szymborska không còn dịch nữa. Số thơ bà đã dịch là thơ baroque của Pháp, được in trong một tuyển tập thơ “quy mô” ở Ba-lan (đến nay cũng chưa hoàn tất việc in ấn).
5. Một số người khác dịch tựa đề bài này: «Góp phần vào chuyện dâm thư»

( STANISLAW BARANCZAK sinh ngày 13-11-1946 tại Poznan. Học văn chương tại đại học Poznan rồi trở thành một giảng sư tại đây vào năm 1969. Khởi sự như một nhà thơ và nhà phê bình văn nghệ vào năm 1965. Từ 1981, trở thành giáo sư văn chương Ba-lan tại đại học Harvard, Hoa-kỳ. Đã dịch John Donne, Gerard Manley Hopkins, e.e. cummings, Dylan Thomas và Osip Mandelstam.