|
||||
|
Chắc hẳn cái tên Rimbaud chẳng c̣n xa lạ ǵ đối với độc giả yêu thơ, nên tôi xin bỏ qua phần tiểu sử dài ḍng, để nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày sinh Rimbaud (20.10.2004), gửi đến quí bạn bản dịch hai bài thơ trong Illuminations, thi tập với những bài thơ-văn xuôi độc đáo, cái gia sản bé tí (42 bài) nhưng vĩ đại nhất của thơ ca thế giới. Chỉ có điều là hai bài tôi chọn dịch ở đây không thuộc thể thơ-văn xuôi, một thể thơ ở thế kỷ 19 đă bị liệt vào hạng "nhỏ", từng được hai nhà thơ đàn anh Baudelaire (Petits poèmes en prose) và Aloysius Bertrand (1807-1841, Gaspard de la nuit) sử dụng, nhưng đă được thiên tài của Rimbaud nâng lên hàng đầu, trở thành thể thơ không thể tránh né của nhóm Siêu Thực và các thế hệ sau. Marine (Biển) và Mouvement (Di động) là hai bài thơ duy nhất trong tập Illuminations không làm theo thể thơ-văn xuôi. Cách vắt ṿng, với những câu thơ không đồng đều và không gieo vần, đă khiến nhiều người xem chúng như là tổ phụ của thơ tự do. Nhưng cũng có vài nhà nghiên cứu đă bác bỏ cái lư thuyết đó, v́ họ nghĩ là Rimbaud không chủ tâm làm thơ tự do. Ai đúng ai sai không thành vấn đề ở đây. Ở đây, tôi chỉ muốn cùng bạn đọc bước vào chính tác phẩm của Rimbaud, phần c̣n lại chỉ là chuyện phụ thuộc. Hai bài thơ đặc thù này được coi như biểu tượng của một chuyến đi (như chuyến đi trên con thuyền chở thú vật của Noé trong Kinh Thánh vào cơn Hồng Thủy) tới một chân trời mới, mà ta có thể coi như là chân trời mới của thơ ca vậy. Verlaine viết: “Tác phẩm của Ô. Rimbaud, trở ngược về từ thời kỳ ông c̣n rất trẻ, nghĩa là những năm 1869, 70, 71, khá dồi dào, có thể gom lại thành một tập thơ đáng kể, gồm những bài thơ thường là rất ngắn, những bài sonnet, triolet*, những khổ thơ bốn, năm hay sáu câu. Nhà thơ này chẳng bao giờ sử dụng vần cặp (rime plate). Câu thơ của ông vững vàng, ít khi sử dụng xảo thuật. Ít có những chỗ ngắt tùy tiện, lại càng ít vắt ḍng hơn. Sự lựa chọn các từ luôn luôn tuyệt vời, đôi khi cố ư phô trương. Ngôn từ minh bạch và vẫn trong sáng dù gặp lúc ư tưởng sẫm lại hay ư nghĩa tối lại.” (1) Tất nhiên đoạn trích dẫn trên chỉ đề cập đến phần thơ c̣n làm theo thể thơ cổ điển trong thời kỳ đầu. Yves Bonnefoy viết: “Sự vĩ đại của Rimbaud ngụ ở chỗ nhà thơ này đă từ chối cái phần tự do bé nhỏ mà trong thế kỷ và gia thế của ông, ông có thể lănh nhận làm của ḿnh, nhưng ông đă đứng ra làm chứng nhân cho sự lệ thuộc của con người và kêu gọi sự quá độ từ nỗi khốn khổ của tinh thần đến sự trực diện bi thảm với cái tuyệt đối. Chính cái sự quyết định này và sự cương quyết đó đă khiến thơ ông mang tính giải phóng trội nhất (và do vậy mà nó cũng đẹp nhất) trong lịch sử ngôn ngữ của chúng ta. Một mộ huyệt nếu chúng ta muốn vậy, nấm mồ của những sự cứu rỗi bị hụt hẫng, của những niềm vui nho nhỏ bị chà đạp, của một cuộc đời bị tách khỏi mọi thăng bằng và mọi hạnh phúc do chính sự đ̣i hỏi của nó. Thế nhưng con Phượng hoàng của tự do, mà thân thể được cấu tạo bằng những mơ ước bị đốt cháy, đă bay tới đây để lay chuyển không khí bằng đôi cánh mới của nó.” (2) René Char viết: “Rimbaud là nhà thơ đầu tiên của một nền văn minh mới chưa xuất hiện, nền văn minh mà những chân trời và những tấm vách chỉ là những cọng rơm cuồng nộ.” (3) Jean-Marie-Gleize, phản-trữ t́nh, người bênh vực chủ nghĩa “litteralisme” (4) chuyên viên về nhà thơ Francis Ponge, tác giả cuốn A noir: poésie et littéralité (1992) giám đốc tạp chí Nioques, th́ đề nghị một cách đọc duy vật thơ Rimbaud, hoàn toàn đối chọi với huyền thoại: “Rimbaud là kẻ đă đặt tựa Tiểu thuyết cho một bài thơ và Sonnet cho một bài thơ-văn xuôi. Do vậy chúng ta chỉ có thể le lưỡi mà thôi. Câu hỏi: “Có một cái ǵ như là “thơ” không? Có nên sử dụng một trong các từ này (thơ, bài thơ, tiểu thuyết, văn xuôi, v.v.) không? Chuyện ǵ sẽ xảy đến sau sự khô cạn nghĩa ngữ của những từ kia (sau sự lẫn lộn có hệ thống)? Chúng ta chưa ra khỏi câu hỏi ấy. Chúng ta (hay, có thể là, ít nhất, vài người trong chúng ta) đang t́m cách phát biểu rơ ràng, với tất cả sự minh bạch có thể có được. (5) NĐT.
NGUYỄN ĐĂNG THƯỜNG dịch ____________________ Chú thích của người dịch: 1. Les poètes maudits (1884-1888), Oeuvres en prose complètes, Gallimard, Pléiade 1972, tr. 644-646. 2. Rimbaud, nxb du Seuil 1994, “Écrivains de toujours” tr. 130-178. 3. “Arthur Rimbaud”, Recherche du base et du sommet, Oeuvres complètes, Gallimard, 1983, tr. 729-732. 4. Littéralisme: Một chủ nghĩa văn học ở các thập niên cuối của thế kỷ 20, do các môn đệ của Ponge sáng lập, chủ tâm giảm ẩn dụ mức tối đa, đưa ngôn ngữ trở về với nghĩa đen (littéralité), diễn tả một thực tại nh́n sát, không qua ống kính cái tôi trữ t́nh, “đen trên trắng”, theo lời Emmanuel Hocquard. Jean-Marie Gleize, một đại diện của trào lưu này, đối chọi câu thơ sử dụng ẩn dụ nổi tiếng của Éluard Trái đất xanh như một trái cam (La terre est bleue comme une orange) với câu thơ tả chân của Marcelin Pleynet Bức tường ở chỗ trong cùng là một bức tường vôi (Le mur au fond est un mur de chaux) . 5. Arthur Rimbaud, Hachette, 1993, tr. 9-10. |
|
|