|
||||||
|
Một thập kỷ trôi qua từ khi xuất hiện ấn bản đầu tiên, Thơ Mở Rộng (Expansive Poetry) của Frederick Feirstein, đă chứng kiến sự chiến thắng của những nhà thơ và thơ đạt tới chỗ an toàn trong chuẩn mực đương thời. Khi Thơ Mở Rộng được xuất bản lần đầu năm 1989, hai phong trào liên hệ của thơ Hoa kỳ, với những bài tiểu luận chưa hề ghi dấu. Thơ Tân Truyện Kể (New Narrative) có thể đă hănh diện với một số bài thơ thành công, và thơ Tân H́nh Thức (New Formalism) vẫn chưa có tuyển tập cung cấp những bài thơ điển h́nh để đôïc giả đánh giá. Thập niên tiếp theo cả hai phong trào đă thành công vượt quá mong đợi của những người ủng hộ đầu tiên và nồng nhiệt nhất. Thơ truyện kể những năm gần đây – cả dài và ngắn – của Robert McDowell, Dana Gioia, Mark Jarman, Sydney Lea, David Mason, Marilyn Nelson, và những người khác đă t́m được những nhà phê b́nh hăng hái và độc giả háo hức đọc, loại thơ hầu như biến mất từ nửa sau của thế kỷ chúng ta. Những tuyển tập như A Formal Feeling Comes: Poems in Form by Contemporary Women, do Annie Finch biên tập, và Rebel Angels: 25 Poets of the New formalism, do Jarman và Mason biên tập, đă tập trung được những bài viết then chốt, qua đó Tân h́nh thức hoặc đứng vững hay thất bại. Nếu không một phong trào nào đánh dấu thơ Hoa kỳ đương thời, từng làm chói tai công chúng như những nhà thơ Beat và Confession đă làm 40 mươi năm trước (và khó có thể tưởng tượng sự t́m kiếm tích cực của những nhà thơ này nổi danh như vậy), cả hai phong trào thơ Tân truyện kể và Tân h́nh thức tiếp tục lôi kéo sự chú ư của giới phê b́nh tới độ, trong cảnh trí hiện thời, được sánh với những nhà thơ tiền phong Ngôn ngữ. Sự thành công tiếp tục của Thơ Mở Rộng có thể đo bằng những điểm chuẩn khách quan – những tuyển tập đă nói trên và những bài phê b́nh; sự nổi lên của những nhà thơ trẻ hơn đang duy tŕ sáng tác bằng thể luật và truyện kể; thiện ư của những tạp chí, tập san, rất nhiều trong họ như The Formalist, Janus, Sparrow dành hết cho thơ h́nh thức; một hội nghị những nhà văn ở West Chester University tập trung vào h́nh thức và truyện kể; và ngay cả sự thừa nhận không dễ dàng, trong h́nh thức thảo luận về thơ Tân h́nh thức ở hội nghị hàng năm của Associated Writing Programs. Những dấu hiệu này của thời đại, biểu thị khoảng khắc mở rộng của thơ Hoa kỳ. Những nhà thơ diễn hành dưới ngọn cờ
“mở rộng”, luôn luôn tiêu biểu cho cuộc hôn lễ thuận lợi giữa hai
gia đ́nh của những nhà thơ; qua đó một số nhà phê b́nh đă cung hiến
những lư thuyết đầy thuyết phục, không có lư do tự động nào
nẩy sinh ngoài truyện kể, nối sự trở lại những bài thơ thể
luật. Wade Newman đặt ra thuật ngữ này từ một tiểu luận,
“The Expansive Movement in American Poetry,” xuất hiện trong số đặc biệt của
Crosscurrent 8.2 (1989), chủ biên bởi Dick Allen. “Mở rộng” khởi đầu
là một thuật ngữ mơ hồ; ngay cả Crosscurrent cũng đặt sai phong
trào như “Expansionist Poetry” ở trang b́a. Trong khi “Thơ Mở Rộng” có lẽ không
bao giờ t́m được sự ủng hộ rộng răi, ngay cả chính những
người thực hành, nó vẫn c̣n là xấu hay tốt, cái tên dùng thông thường
cho một nhóm nhà thơ có những ảnh hưởng lẫn nhau một cách kiên
định. Sự định nghĩa về cơ bản vẫn không dứt khoát.
Trong lời giới thiệu cho ấn bản đầu tiên của cuốn sách này,
Feirstein và R. S. Gwynn đề nghị một cách thận trọng:
Tinh thần đối địch và sống động nơi những lời phát biểu này, tiêu biểu cho quan điểm, vang dội trong cảm nghĩ của rất nhiều nhà thơ Tân h́nh thức và Tân truyện kể. Hầu hết những nhà thơ này trưởng thành từ thập niên 1960, khi thơ Beat, Confession, và Deep Image, trong khuynh hướng riêng rẽ của họ, chiếm ưu thế trên diễn đàn thơ ca. Họ sửng sốt nh́n những nhà thơ của thế hệ cha anh -- hướng dẫn họ -- nổi lên lúc nửa đời với sự báo thù, quay mặt lại truyền thống để tiến tới thể thơ tự do và gia tăng sự tiếp cận chủ quan tới chất tự truyện. Không vừa ḷng với khả thể giới hạn cung hiến bởi tinh thần thời đại thập niên 60, những nhà thơ trẻ, không giống người đương thời của họ, trở lại với kiểu mẫu ban trước – Frost, Hardy, Jeffers, Millay – và trong vài trường hợp cố gắng chống lại chủ nghĩa Hiện đại, hồi phục và tái lập thể loại của những thời kỳ văn học trước đó. Chiến lược này có thể so sánh với kiến trúc hậu hiện đại, thành công khi du nhập mái ṿm và trục cong vào thế giới bê tông sắt thép hoặc trở lại giọng điệu nhạc tính có thể được ca ngợi rất đúng là “mới”. Trong cung cách kỳ lạ của biện chứng văn học, trở lại truyền thống có thể coi như sự biểu thị khác của cuộc cách mạng, một thế hệ chống lại quyền lực của thế hệ lớn hơn -- nhưng không phải là cuộc cách mạng với con mắt giận dữ mà chống lại sự dấy động trong những cuộc Chiến Văn hóa – v́ thế Jarman và Mason đă mệnh danh họ như “những thiên thần nổi loạn”. Một nhà thơ liên kết với Tân h́nh thức thú nhận, ông là một “người trái ngược”, rất tự nhiên, đă được lớn lên trong cái thời của sonnet nhưng lại chỉ làm hay với thơ tự do. Trong The Reaper Essays, Mark Jarman và Robert McDowell chỉ ra, mục đích của họ trong việc đề cao thơ truyện kể, trong vài tiêu chuẩn, “nhằm chống lại tính tự măn trong văn chương.” Vào cuối thập niên 1970, âm nhạc bộ tộc của Poetryland – tuyên ngôn đáng ngờ của Thơ Dự phóng (Projective Verse) và đơn vị hơi thở, khuynh hướng giảm thiểu chỗ ngắt trong “Howl” và “Daddy,” chủ nghĩa phù thủy trong h́nh ảnh sâu thẳm và đa dạng của trí tuệ – bắt đầu, tương tự nghi lễ hóa những câu bùa chú, lầm bầm bởi vô số nhưng lại rất ít người hiểu được, và ư nghĩa của loại thơ đó đă tồn tại quá lâu hơn cả sự đón nhận của họ. Điều này nói lên, chiều hướng nào nơi những nhà thơ trẻ, không bằng ḷng với phần c̣n lại của hiện trạng đó? Rất nhiều cách khác nhau trong việc thay đổi bế tắc thẩm mỹ: những nhà thơ ngôn ngữ cố gắng đẩy tính chủ quan và sự hỗn loạn đi xa, loại bỏ hoàn toàn độc giả; những nhà thơ Tân h́nh thức và Tân truyện kể, trở lại tiếp cận với cái nh́n xa hơn, khẳng định độc giả hoàn toàn thiết yếu. Có lẽ phần cốt lơi của hàm ư “mở rộng” là muốn bao gồm thành phần người đọc rộng lớn; những nhà thơ mang lại cho độc giả b́nh thường – đ̣i hỏi phải từ bỏ thơ hiện đại -- thương tiếc những nguyên tố đă mất. Thật ra, nếu chúng ta nghĩ về Thơ Mở Rộng như một phong trào dân túy thật sự (với ư nghĩa danh dự nhất của thuật ngữ này), th́ những nhà thơ chỉ đơn giản đáp ứng đ̣i hỏi của độc giả (chống lại sự kiêu ngạo, coi thường người đọc) về những yếu tố thể luật có thể nghe và chất lượng tính truyện có thể hiểu. Trong khi sửa soạn hiệu đính ấn bản Expansive Poetry, tôi cố duy tŕ trung thực quan điểm của Feirstein, nhưng làm mạnh thêm vài khía cạnh của ấn bản đầu. Một vài tiểu luận liên hệ tới vấn đề gần đây, được thay thế cho thích hợp, trong đó có bài viết quan trọng về Tân Truyện Kể của David Mason và Thomas M. Disch; tôi cũng thêm vào bài “Metrical Illiteracy,” của Brad Leithauser, một tiểu luận đề cập tới sự thảo luận về thơ Mở Rộng, rất khó kiếm bây giờ. Một phê b́nh về ấn bản đầu tiên là nó không cung cấp quang cảnh lịch sử rơ rệt về Thơ Mở Rộng; cuối cùng, tôi gồm thêm tiểu luận của Meg Schoerke và Keith Maillard, đặt Tân h́nh thức trong bối cảnh văn hóa và lịch sử rộng lớn. Tiểu luận sau, thay thế bài “Toward a Liberal Poetics” của Paul Lake (Lake hiện diện đâu đó ở đây), cung ứng sự thảo luận toàn diện về căn nguyên của Tân h́nh thức và những tranh luận tiếp theo bao quanh nó. Một phê b́nh khác đánh giá Thơ Mở Rộng, không đại diện trung thực cho t́nh trạng thơ Mỹ hiện thời v́ chú tâm vào tác phẩm của những nhà thơ nam da trắng. Chỉ trích này đă tạo nên ấn tượng sai lầm, Tân h́nh thức và Tân truyện kể có tính địa phương (giả thiết này mau chóng tan mất khi đọc kỹ nội dung của hai cuốn A Formal Feeling Comes và Rebel Angels). Để phác họa chính xác tính đa dạng của phong trào, tôi thêm vào một tá nhà phê b́nh và nhà thơ nữ; rất nhiều b́nh luận của họ nhắm vào câu hỏi làm sao những nhà thơ nữ vừa gộp vào vừa phá vỡ “quyền lực gia trưởng” mà một vài nhà phê b́nh khẳng định là phần cấu thành tự nhiên của thể thơ truyền thống. Tôi cũng do dự nên hoặc không, giữ lại vài chọn lựa đă dự trù, như một người chủ biên và phê b́nh từng viết về thơ Mở Rộng. Tôi cho in lại một tiểu luận v́ sự quan trọng lịch sử đối với phong trào, v́ tính chất nghiên cứu được ngưỡng mộ một cách rộng răi, và bởi tôi tin vào nhận thức của độc giả xét đoán kết cục của nó một cách công bằng. Cuối cùng, độc giả sẽ gặp ở đây rất nhiều tham khảo về nhà phê b́nh, nhà thơ, bài thơ trong những tiểu luận về thơ Mở rộng. Như tất cả những phong trào văn học, t́nh bạn cá nhân và sự liên kết chuyên nghiệp đóng một vai tṛ cũng quan trọng ngang với tín điều thẩm mỹ được chia sẻ, và những nhà phê b́nh kiêm nhà thơ, không thể lẩn tránh, nên ngợi khen và cổ vơ những tác phẩm có cá tính và cảm xúc. Cũng là điều tự nhiên, một nhóm nhà văn cần khắc phục sự quên lăng, chối bỏ, và thù địch để lôi kéo những toa xe thơ như nhà thơ h́nh tượng và Black Mountain của những thập niên trước. “Biên hóa” một thuật ngữ đang thịnh hành trong ṿng đai hàn lâm, không áp dụng độc nhất cho những mảnh rơ rệt của giai cấp thơ hạ lưu. Để kết luận, tôi muốn gửi lời cảm kích
đối với một vài cơ sở xuất bản và cá nhân, xứng đáng
được tín nhiệm hơn là họ đă nhận được. Một là
Mississippi Review, xuất bản năm 1977 ấn bản đặc biệt,
Freeom and Form: American Poets Respond. Tôi không tin ở thời điểm đó, có lẽ
là sớm nhất, phát súng “chiến tranh thể luật” đă được đề
cập tới đầu tiên trong lịch sử của phong trào mở rộng. Ấn
bản cũng cung cấp cho tôi một diễn đàn để phát biểu mạnh
về chủ đề, cùng với lời b́nh luận, bài thơ bởi một số
những nhà thơ tên tuổi. Một khuôn mặt đầy ư nghĩa của lịch
sử thơ mở rộng là Lewis Turco, tác phẩm của ông, Book of Forms và theo sau là
New Book of Forms đă giúp rất nhiều nhà thơ trẻ duy tŕ sự chú tâm của
họ tới khả thể của thể luật qua nhiều năm. Thật ra, chính
Turco, tập hợp những bài b́nh luận cho Dictionary of Literary Biography Yearbook, khởi
từ đầu thập niên 1980, ghi chép những hoạt động của phong trào ông
gọi là “tân h́nh thức” (neo-formalism). Thơ Mở rộng không thể có được
tầng lớp độc giả rộng răi nếu không được sự
ủng hộ và ân cần của những chủ bút như X.J. Kennedy (Counter/Measures),
Frederick Morgan (Hudson Review), Donald Stanford (Southern Review), và R. S. Gwynn, sau đó là
Marilyn Hacker (Kenyon Review). Cuối cùng, sự kiên định của những nhà
thơ thế hệ trước không bao giờ từ bỏ t́nh yêu đầu tiên
của họ, hổ trợ rộng răi những nhà thơ trẻ c̣n yêu quí truyền
thống. Với những thí dụ điển h́nh, có lẽ chính xác hơn để
kết luận với một vài nhận xét của Richar Wilbur trong Mississippi Review
cách đây 20 năm:
Đó là dấu hiệu hy vọng mà Wilbur cất lên hai thập niên trước, như lời báo của vị tiên tri chưa đến, bây giờ vọng lại trong tiếng nói của những nhà thơ và phê b́nh trẻ, nhận lấy thách đố như một mệnh lệnh mỹ học và có lẽ, như một lương tri. Ltt chuyển dịch |
|
|