Thuở Trời Đất Nổi Cơn Gió Bụi
Khế Iêm



Khởi từ Nietzsche: Chúa đă chết, tác giả đă chết (Roland Barthes), chữ đă chết, thực tại đă chết (Michael Benedikt). Quá nhiều cái chết nhưng chẳng thấy xác đâu. Thật ra, Chúa không chết, Chúa chỉ quá thực (hyper real) đi, theo diễn tiến lư thuyết của Jean Baudrillard về Simulacrum (vật giả):

1. Phản ảnh thực tại.

2. Che giấu và làm sai lạc thực tại.

3. Sự vắng mặt của thực tại

4. Hoàn toàn cắt đứt liên hệ với thực tại.

Thực tại quá thừa thăi và trở thành quá thực (hyper-reality) trong đó h́nh ảnh phát sinh không liên hệ ǵ tới hiện thực, nhưng lại chứa đựng cả cuộc đời lẫn nghệ thuật. Từ đó đưa tới kinh nghiệm ảo thực (Virtual-Reality), qua trung gian computer, đánh lừa giác quan và tạo cho chúng ta có cảm giác sống trong thế giới khác. Cyberspace, là thứ không gian không không khí, xâm nhập vào đời sống thường ngày, như đàm thoại, gặp gỡ, mua sắm, lấy vé máy bay hay mướn pḥng khách sạn qua phương tiện điện toán, và cũng có thể đưa ta bước vào thế giới ảo; dĩ nhiên với sự trợ giúp của những dụng cụ kỹ thuật cao, như mang một thứ nón (special helmet), găng tay (special gloves) hay mặc vào một bộ đồ đặc biệt (body suit). Trong thế giới này, chúng ta có ảo giác đang



đi dạo trên một hè phố Paris, thăm một di tích cổ, hay tham dự vào một biến cố nào đó... tùy theo sự chọn lựa. Thế giới đó giúp ta thoát ra khỏi những chi phối của không và thời gian. Cái chết trở nên không thật, bởi chúng ta có thể nói chuyện trực tiếp được với một người cách nhau cả thế kỷ. C̣n ǵ thích thú bằng, ở một chỗ mà vẫn đi lang thang khắp cùng trái đất, sống với những thiên thần, lên thiên đàng và không bao giờ chết. Và khi nh́n ngược lại, cái nơi chốn trần gian, ngay cả lịch sử, con người chưa một lần hiện hữu. Như vậy th́ giữa cái thật và ảo, cái nào là thật?

Một gợi ư: “Đă đành là thơ cho đến cùng tận là vô ngôn đi. Nhưng Chinh Phụ Ngâm, ngoài bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm, c̣n bản chữ Hán của Đặng Trần Côn...” Như vậy hẳn nhiên bài thơ “Đọc Chinh Phụ Ngâm” có một cái ǵ đó chưa đầy đủ. Vả chăng nó có vẻ khó hiểu, nếu không chỉ là một tṛ vui mắt.

Một câu chuyện truyền kỳ mà ai cũng biết, đó là Lưu Thần, Nguyễn Triệu nhập thiên thai, khi trở về th́ cảnh cũ người xưa đă không c̣n nữa. Nhưng nơi chốn vẫn là nơi chốn cũ, và cái cảnh cũ người xưa ấy không phải không c̣n mà là một thực tại vắng mặt, bị che lấp bởi cái thực tại đang có mặt. Khi không t́m thấy cái thực tại thực của chính ḿnh, cái thực tại mới làm choáng váng, như bóng ma của nhiều thứ thực tại chập vào nhau. Cái thực tại mà hai ông đi t́m kiếm, và tưởng là đă mất; thật ra, nó không hề mất, nó chỉ quá thực (hyper real) mà thôi. Có thể không, hoặc cũng có thể nh́n ra sự thể, nên hai ông đă bỏ đi và nhập vào cái thực tại vắng mặt, cái thực tại quá thực của ḿnh. Câu chuyện kết thúc đẹp và có hậu.

Trở lại với tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, đâu có ǵ chắc chắn rằng bản chữ Hán của Đặng Trần Côn hay bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm chỉ có một bản. Mà có thể có nhiều bản chữ Hán hoặc chữ Nôm được sao chép từ đời này qua đời nọ. Ngay đến bản Quốc ngữ, đă có biết bao nhiêu nhà xuất bản với nhiều người chú giải khác nhau. Không ai dám chắc, đâu mới là bản nguyên thủy, và không có sai lạc giữa bản này và bản khác. Vậy th́, cái nguyên bản ấy thực ra chính là cái thực tại vắng mặt, cái thực tại ảo. Và cái bản chúng ta đang đọc, chỉ là những bản sao không nguyên bản. Cái ư không nguyên bản ở đây có nghĩa là, dù t́m được bản chữ Hán hay chữ Nôm, chúng ta cũng không đọc ra, và nếu có đọc ra th́ cũng không thể quyết đoán đó là bản chữ Hán hay chữ Nôm nguyên thủy. Và như thế chẳng bao giờ xác định được giá trị hay dở hay ư nghĩa đích thực của nó.

Bài thơ “Đọc Chinh Phụ Ngâm” bao gồm nhiều nguyên bản, như cái thực tại này chứa nhiều thực tại khác. Nó làm một cú nhảy, xô cái vô lư vào vô lư, xóa trắng một phận đời. Và tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, chỉ c̣n trong trí tưởng, những âm vang dạt về từ quá khứ, mà bây giờ ngay cái âm vang đó cũng đă mất. (Ở đây có thể nêu lên câu hỏi, tập Chinh Phụ Ngâm có 412 câu, tại sao c̣n có một đoạn; và cứ coi là những trang chữ chập vào nhau, nên có thể rút gọn lại, th́ làm sao biết được có bao nhiêu lỗi chính tả trong tập thơ này? Âm luật, ngôn ngữ, ư tứ, và vân vân đă bị hóa thân rồi chăng?) Bởi, làm ǵ có cái gọi là thực tại. Như vậy bài thơ đă đi ra ngoài phạm vi của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, lạc vào huyền thoại, và trở về thời đại chúng ta đang sống. Thách đố của thơ, hẳn là tự nó làm vắng mặt nó đi. Và làm sao tránh khỏi sự ngộ nhận, đáng ǵ một tṛ mua vui.

Chống lại truyền thống, trở thành truyền thống của thời hiện đại 1. Chống lại không phải để phá hủy hay phủ nhận mà là những cơn đau chuyển ḿnh (thúc đẩy bởi những tiến bộ kỹ thuật mới), soi rọi từ nhiều hướng, và nghệ thuật trở nên đa sắc thái, đầy sinh động, nối kết truyền thống.

Chẳng phải là nghệ thuật nhiếp ảnh khi ra đời đă đẩy hội họa hiện thực tới chân tường, tưởng đâu không c̣n lối thoát. Và Paul Cézanne (1839-1906) với trường phái Ấn Tượng, đă không c̣n thể hiện sự vật giống như thực nữa mà qua cách nh́n, cách nhận biết của người nghệ sĩ. Sự vật không c̣n bất động mà là chuyển động, qua rung cảm của người nghệ sĩ. Con người nhập vào cảnh vật (the view contains the viewer), xóa đi những phân cách với thiên nhiên. Nhưng không phải tới đây là hết, Lập Thể đẩy tới một bước nữa, coi con người cũng ngang bằng với sự vật, khóa lại những chuyển động, làm một cuộc tổng hợp giữa không gian và h́nh tượng, cũng trong quan điểm thể hiện hiện thực khác mà nghệ thuật nhiếp ảnh không thể nào lấn lướt được. Mọi chuyện êm đẹp và rằng nghệ thuật mở ra một con đường thênh thang, cứ thế mà đi, phát hiện thêm những t́m kiếm mới.

Cuộc đời chẳng có ǵ là đơn giản, khi vào năm 1936, nhà phê b́nh Marxist, Walter Benjamin, qua một tiểu luận: “The Work of Art in the Age of Mechanical Reproduction” báo động rằng kỹ thuật in ấn khi in ra hàng loạt những phiên bản đă làm cho những nguyên bản không c̣n giá trị.

Nhưng trước đó, vào năm 1917, Marcel Duchamp đă đưa ra một khám phá: Readymade Art, tính nghệ thuật đă có sẵn trong các sự vật nếu chúng ta tước bỏ sự tiện dụng và ư nghĩa của nó. Rồi hàng loạt những hoạt động phản nghệ thuật (anti-art) khác như Pop Art, Conceptual Art làm tê liệt sự sao chép. Một thí dụ, vào năm 1970 tại Luân Đôn, hai nghệ sĩ Gilbert và George tự tŕnh diễn như những điêu khắc sống (Living Sculptures), nhấn mạnh vào sự quyến rũ tự bản thân của người nghệ sĩ.

Sự chống đối đă tới lúc kết thúc, như sự đối đầu của thời chiến tranh lạnh đă không c̣n nữa. Chủ nghĩa hiện đại đă chấm dứt cuộc chiến tranh với chính nó và trở thành hậu hiện đại 2. Ngay bây giờ (just now) của hiện đại trở thành sau ngay bây giờ (after just now) của hậu hiện đại. Và thực tế cho thấy rằng sự sao chép (reproduction) chẳng những không làm mất giá trị của nguyên bản, mà trái lại c̣n làm tăng thêm giá trị của nguyên bản. Vậy th́ tại sao chúng ta không cứ sống trong t́nh trạng tốt đẹp này. Mọi sự đă có sẵn theo quan điểm của Marcel Duchamp, chúng ta cứ việc lấy ra xài lại. Có điều là xài theo cách nào thôi.

Đi xa thêm, chúng ta vẫn thường nhắc tới trong những sinh hoạt chính trị hay xă hội, ngụ ngôn về con dê tế thần (scapegoat). Những đô thị thời cổ Hy Lạp nuôi và thuần hóa, với những phí tổn của cộng đồng, loài thú rừng này. Rồi khi có những tai họa như dịch bệnh, đói kém, lựa ra một con xấu xí nhất, cho ăn sung và lúa mạch, đánh bằng roi tỏi tây, cành sung, tẩm hành vào b́u dái, đau đớn cho đến chết. Sau đó hỏa thiêu, ném tro ra biển và bốn hướng gió. Như vậy là đô thị đă được thanh tẩy. Nhưng nếu con dê tế thần tượng trưng cho cái ǵ xấu xa, độc hại, th́ nó cũng là phương thuốc trừ tà, hóa giải những tai ương. Và nếu nó bị đẩy ra ngoài thành phố th́ trước đó nó đă ở trong thành phố. Logocentrism, chủ nghĩa trung tâm, là lư luận mà Jacques Derrida đưa ra để đánh đổ những phân định giữa cái trung tâm (central) và cái ngoại vi (marginal) mà từ Socrates, Plato, Jean Jacques Rousseau tới Ferdinand de Saussure, Claude Lévi Trauss, đều ưu tiên cho văn nói (spoken word) hơn là văn viết (written word). Từ đó ông phá vỡ nhiều quan điểm trung tâm khác, làm trung ḥa, đưa vào hệ tư tưởng, nguyên tắc dân chủ. Nhưng ông không dừng lại ở đây, mà đi tới giải thích cho rằng cuộc đời giống như một bản văn, chỉ là một tṛ chơi khác biệt giữa sự vắng mặt và có mặt.

Vào năm 1966, Jacques Derrida đến Đại học Hopkins University tại tiểu bang Maryland, Hoa kỳ, đưa ra chủ nghĩa hậu cấu trúc, làm một cú sốc nẩy lửa về triết học. Và từ đây đẩy toàn bộ nền triết học phương Tây tới bờ vực của hoài nghi, phá vỡ những biên giới phân định giữa triết học và văn học, trong và ngoài, Đông và Tây, và nhiều thứ khác nữa, như một thứ thiền học mới. Chủ nghĩa hậu cấu trúc được coi như là tiền hậu hiện đại 4.

Khi mọi biên cương bị phá bỏ, và những cái mà chúng ta gọi là thơ nhại (parody), tái sản xuất (reproduction), đa thực tại (hyper-reality) th́ cũng là cách đi t́m lại những nguyên bản, mặc dù cái nguyên bản ấy chỉ c̣n là những ư niệm mơ hồ. Chắc chắn, đây không phải là sự chế diễu hay phủ nhận truyền thống, mà thật ra, là sắp xếp lại, như sóc một cỗ bài, t́m tới một trật tự mới. Hay nói rơ, là làm lại một truyền thống khác.

Giải thích bài thơ, hay bài thơ là cái cớ để t́m tới một điều ǵ đó, thoạt tiên là chúng ta đă nắm chắc phần thất bại. Viết từ độ không (zero degree of writing) hay ư nghĩa từ độ không (zero degree of sense) hàm ư rằng người đọc tạo ư từ chính họ. Và như thế chẳng có giải thích nào là gần đúng hay đúng nhất. Bài thơ hay một tác phẩm nghệ thuật, có một ư nghĩa tự thân, và người đọc hay thưởng ngoạn, từ nhiều góc cạnh khác nhau, có những tiếp cận và cảm nhận khác nhau. Và có lẽ, chính những giải thích của từng cá nhân người đọc, là những giải thích đúng nhất (cho riêng họ thôi). Điều này đóng góp vào việc tạo tính đa nghĩa cho tác phẩm.

“Đọc Chinh Phụ Ngâm”, tưởng như bị hoa mắt khi bước từ bóng tối ra ánh sáng, từ ảo về thực. Cái thế giới mà chúng ta đang sống sao nó trơ trơ, vô cảm xúc, buồn tẻ, không âm thanh như thế, trái lại với cái thế giới ảo, vừa thú vị, mới lạ, như một giấc mộng đẹp. Nhưng chính v́ thế mà chúng ta phải làm cho nó trở nên sinh động. Muốn vậy, chỉ c̣n cách trở lại với khoảng không gian có không khí, ư thức từng sát na hơi thở, sờ mó tới sự vật, cả nỗi niềm và xao xuyến của nhân sinh. Thơ như một thái độ sống, hoặc như Jean Jacques Rousseau quay về với đời sống mộc mạc của thiên nhiên, hoặc t́m cách thích nghi với hoàn cảnh, chọn một thái độ trung dung như quan điểm của Jacques Derrida. Và như thế chúng ta lại phải bắt đầu t́m kiếm những cách thể hiện mới.

Như vậy chẳng phải là chúng ta đang làm ảo cái thực đi để giải thích thực tại hay sao. Và khi giải thích thực tại cũng có nghĩa là xác định lại vị trí trong thế giới chúng ta đang sống. Cái gốc gác, nguyên bản trở nên kém quan trọng. Chữ không c̣n là một phương tiện độc quyền thể hiện thơ, h́nh ảnh quan trọng hơn. Hay nói khác, mọi phương tiện đều có giá trị ngang nhau, tùy thuộc người nghệ sĩ có nắm chắc được phương tiện ḿnh đang sử dụng hay không. Thực tại và tưởng tượng đă chết, và mỗi tác phẩm là tiến tŕnh t́m kiếm luật tắc của chính nó. Chúng ta đang đi vào cơn gió bụi. Và cái thuở trời đất ấy, tái hiện thời kỳ lăng mạn mới, rằng thế giới chúng ta đang sống vẫn là một thế giới đáng sống. Những khám phá về kỹ thuật, dù huyền ảo cách mấy, như đưa tương lai vào hiện tại, đẩy hiện tại ngược về quá khứ, tiêu hủy ư niệm không và thời gian, th́ cũng chỉ là những kích thích giúp chúng ta quay lại, t́m ra cái thật tướng của cuộc đời. Thơ hay những tác phẩm nghệ thuật phải vui hơn, mới lạ hơn, đủ sức hấp dẫn, làm cân bằng đời sống, để khỏi bị rơi vài cái bẫy hoang tưởng của một nền văn minh.

Tạo ra một truyền thống khác? Nhưng mà có ǵ khác đâu, v́ trong cái mới đă có cái cũ, trong cái hiện tại này đă có cái hiện tại khác. Vật t́m thấy (Found Object), chụp bắt từ thực tại, và c̣n ǵ nữa, đánh thức chúng ta khỏi vùng quên lăng (amnesiac zone) của thế giới ảo thực, bóc trần phi lư, để trở về nguyên dạng, từ đó bắt đầu cuộc lữ. Và bắt đầu như thế nào, ở trong hay ngoài luân hồi hay chính là luân hồi? Khi mọi thứ bất khả định bởi sự xóa mờ những làn ranh dị biệt, chúng ta bị buộc bước vào cuộc chơi, sống lầm và chết lầm giữa hai bờ vực (oái oăm thay, bờ nào cũng là ảo thực), th́ có phải chính trong giây phút hiếm hoi của nỗi đau thức tỉnh, thơ lại một lần xuất hiện. Nếu coi đó chỉ là những đứa con ngỗ nghịch, những vật xấu xa độc hại, như những con dê tế thần, th́ nó cũng là phương cách hiệu nghiệm để chữa lành cơn dịch bệnh, đang đẩy thơ vào con đường cụt.

Thời đại của chúng ta, hẳn, không phải là t́m cách chinh phục hay đào thoát khỏi thực tại mà là nhận biết thực tại. Và nếu nói rằng hậu hiện đại là chủ nghĩa bị mắc lưới vào trong chủ nghĩa hiện đại, điều đó có ǵ đáng quan tâm đâu, bởi v́ dù thế nào chăng nữa, chúng ta cũng đang bắt đầu một chu kỳ khác, và thơ hay mọi ngành nghệ thuật, đứng trước một thách đố. Tái diễn hay lập lại, ảo hay thật, vắng mặt hay có mặt, tất cả cũng đều nằm trong cái toàn cảnh của hiện thực. Nếu cho đến tận cùng, thơ là vô ngôn đi th́ cho đến tận cùng của đời sống là trả lời cho bằng được sự hiện hữu trong cơn lốc của thế kỷ mà chúng ta sắp bị thổi bay đi. Có lẽ đó là câu hỏi chẳng bao giờ có câu trả lời thích đáng.

Ghi Chú:

1. Thời kỳ hiện đại bắt đầu từ khoảng 1890-1900, có nghĩa là cái khoảng bắt đầu ấy chừng 10 năm, nhưng thật ra, nó đă manh nha gần một thế kỷ trước.

2. Thuật ngữ hậu hiện đại xuất hiện vào đầu thập niên 1950, nhưng những thay đổi về văn chương luôn luôn gắn liền với những thay đổi về xă hội. Như vậy có thể coi như từ thập niên ‘50s đến ‘80s chỉ là thời kỳ manh nha của chủ nghĩa này. Nếu so sánh thời kỳ manh nha của chủ nghĩa hiện đại kéo dài gần một thế kỷ, th́ tại sao thời kỳ hậu hiện đại lại chưa đến nửa thế kỷ? Có lẽ v́ cuộc cách mạng điện toán xảy ra quá nhanh hơn là cuộc cách mạng kỹ nghệ cách đấy hai thế kỷ. Một lư do nữa là sự sụp đổ của Liên Xô cũ cũng xảy ra quá nhanh (1989), chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần ba phần tư thế kỷ. Hai sự kiện nổi bật trên, chính thức đưa nhân loại tới một thời kỳ khác. Và có lẽ từ thập niên 1990 tới năm 2000, chúng ta mới nh́n thấy rơ những bước đi tới của chủ nghĩa hậu hiện đại.

4. Vào lúc 3 giờ 32 phút trưa ngày 15 tháng 7 – 1972, ṭa nhà The Pruitt-Igoe thuộc chương tŕnh phát triển gia cư ở St. Louis, tiểu bang Missouri, một dự án đă được giải thưởng xây cất chỗ ở cho những người có lợi thức thấp, bị phá sập v́ không thể ở được. Kiến trúc sư Charles Jencks, nhân dịp này tuyên bố đây là ngày mở đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại, phong cách quốc tế của chủ nghĩa hiện đại đă chết.

Khế Iêm
Biên Khảo Tân H́nh Thức Tứ Khúc và Những Tiểu Luận Khác


Home