|
|||||||||||||||||||||||
Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, hội họa liên tiếp thay đổi, từ Pop Art phản ứng lại Trừu tượng Biểu hiện (Abstract Expressionism), rồi hội họa Khái Niệm (Conceptual Art) lại phản ứng, và đưa ra một quan điểm mới: nghệ thuật về ư tưởng. Một tác phẩm nổi tiếng của Joseph Kosuth, vào năm 1965, Một và Ba Chiếc Ghế, chỉ đơn giản là một chiếc ghế xếp bằng gỗ, một bức h́nh chụp chiếc ghế đó, và phóng ảnh lớn một paragraph trong tự điển, định nghĩa chữ ghế. Bức tranh đă tạo ra cho người thưởng ngoạn một xúc động mạnh, và đưa ra nhiều vấn đề của nghệ thuật. Trong ba chiếc ghế đó, chiếc nào là chiếc ghế thật? Và ư nghĩa của nó là ǵ? Không ai có thể biết chắc v́ chiếc nào cũng có thể thật và không thật. Và mỗi người bằng cảm quan của ḿnh có thể t́m ra một ư nghĩa, và cũng không chắc đâu là ư nghĩa thật. Ư nghĩa vượt khỏi tầm bắt, ư nghĩa vắng mặt. Ư nghĩa vắng mặt không phải là không có ư nghĩa. Giống như khi đọc những trang sách, nhưng chẳng thể cứ đọc măi. Phải gấp lại, c̣n th́ giờ để thở, để sống. Nhưng nếu không đọc nữa, những trang sách vẫn c̣n đó, chờ đợi chúng ta quay t́m lại. Và thời đại của chúng ta, quả thật là thời đại săn lùng ư nghĩa, như nhà điêu khắc Jerry Joslin muốn dành sự giải thích tác phẩm ông cho người thưởng ngoạn, v́ họ có thể đọc ra được điều ǵ khác. Bức tranh phá vỡ lằn ranh giữa hội họa và điêu khắc, ra ngoài khung bố và màu sắc — bước vào thực tại. Ngôn ngữ hội họa không c̣n là màu sắc mà là những đồ vật thường ngày. Nhưng vấn đề là làm sao biến những đồ vật thường ngày trở thành ngôn ngữ là một điều khó, tùy thuộc vào tài năng của người nghệ sỹ. Ở đây, chúng ta đă nh́n ra sự hóa thân của ngôn ngữ, và chính nó tạo nên nghệ thuật. Từ những ư niệm sơ khởi đó, quay về với thơ. Và cũng như hội họa, chúng ta cần một tác phẩm nào đó, để đối chiếu, thử làm một cuộc truy lùng như thế. Và cũng như những thử nghiệm thơ, đây là thử nghiệm đọc. Tác phẩm “Chớp Biển” của Bùi Giáng, do gia đ́nh và thân hữu in từ Canada (Vinagraphics), kỷ niệm 70 năm sinh, là một tác phẩm thích hợp. Thích hợp v́ không giống với bất cứ tuyển tập nào của Bùi Giáng từ trước tới nay, kể cả những tuyển tập được in mấy năm gần đây. “Chớp Biển” tạo nên ấn tượng làm người đọc phải liên tưởng tới “Mưa Nguồn”, bởi v́ người tuyển chọn, như một cố gắng muốn đưa Bùi Giáng tới gần người đọc, và h́nh dung lại chân dung Bùi Giáng. Nếu “Mưa Nguồn” với giọng thơ gân guốc và nhiều chất điền dă, th́ “Chớp Biển” như một tiếp nối đằm thắm, tưởng như hai gịng thơ ấy chẳng hề có đứt quăng. “Mưa Nguồn” in năm 1962, là tác phẩm đầu tay, đến nay đă 35 năm. 35 năm coi như đă đủ để nh́n ra một cuộc đời thơ, một hành tŕnh thơ với bao nhiêu tang thương biến đổi. Có thể nói, “Chớp Biển” là tập thơ đi t́m lại “Mưa Nguồn”, những bài thơ đi t́m lại những bài thơ tiền thân. Mà ở khoảng thời gian giữa đó, như nhà phê b́nh Nguyễn Phan Cảnh, trong bài Số Phận Bùi Giáng đă viết: “Bùi Giáng thuộc số rất ít những nhà thơ thiên phú, đă được/bị lịch sử chọn để di truyền gien thơ dân tộc, phải vương cho hết tơ rồi có thác mới được thác. V́ vậy, việc giữa đường đứt gánh... thơ một cách không b́nh thường của anh vào thập niên sáu mươi rất có thể là một cách đă được chương tŕnh hóa như thế nào đấy để chặn lại mạch thơ anh, một mă-khóa như thế nào đấy mà hiện nay chúng ta chưa đọc được”. Như vậy th́ vấn đề Bùi Giáng là đi t́m cái mă khóa để mở ra một gịng thơ mà bấy lâu nay vẫn đóng kín, và cái khoảng thời gian giữa đường đứt gánh ấy lại là khoảng thời gian có một ư nghĩa lớn lao trong cuộc đời thơ và cả cho sinh mệnh của gịng thơ Việt. Nắm lấy, bắt mạch, hoán vị, trục xuất, phá hủy, viết lại bài thơ, như những nốt nhạc dấy lên từ kư ức, đưa bản văn từ bóng tối ra ánh sáng, từ vắng mặt thành có mặt. Bởi kư ức làm cho sự vắng mặt có ư nghĩa. Và như thế, ư nghĩa bài thơ là bài thơ khác, mà người đọc, đọc ra ở đằng sau bản văn. Bởi bài thơ chỉ hoàn tất khi nó được đọc, nếu không th́ vẫn cứ măi ở t́nh trạng dang dở. Nhà thơ dang dở với thơ, và thơ dang dở với nhà thơ. (Trong bài này, người viết phát biểu theo quan điểm của ḿnh, tác phẩm lên tiếng, và người đọc là trung gian đánh giá và góp ư, tương tự như kiểu đối đáp trong thoại kịch, dù chỉ trên mặt giấy. Như vậy, người đọc có thể t́m ở đây, ít ra, một giá trị giải khuây nào đó. Bởi một điều, nếu trong sáng tác, chúng ta luôn trông chờ một điều ǵ mới, th́ trong cách viết và đọc, cũng phải thay đổi một chút, cho trệch đi, và người đọc có thể tham dự trực tiếp để thơ có nhiều lối nh́n, nhiều cách soi rọi. Người viết có thể sai lầm, nói ra ngoài tác phẩm, người đọc điều chỉnh lại; và mặt khác, người đọc cũng có thể bước ra ngoài bài viết và tác phẩm để t́m kiếm một điều ǵ khác. Những bài thơ trích dẫn, không hẳn là tiêu biểu, v́ đằng sau đó là trùng điệp thơ; và chỉ là cái cớ, đẩy người đọc đi t́m lại một ḍng thơ... như thác đổ từ nguồn, hăy cứ để nó chảy lai láng, cuốn ta đi, và sau đó, trong khoảng khắc t́nh cờ, ta nhận ra nó, nó nhận ra ta. Như vậy không phải là điều thú vị lắm hay sao? Chú thích này trong bài, xin như một đoạn nhắc tuồng về vị trí của mỗi phía tham dự).
Thơ Bùi Giáng là cuộc vận chuyển không ngừng của ngôn ngữ. Và khi chuyển động, nghĩa của chữ chưa kịp xuất hiện th́ ngay tức khắc bị chữ khác thay thế. Cứ như thế, thơ truy lùng thơ, ngôn ngữ truy lùng ngôn ngữ, và bài thơ này trùng lấp vào bài thơ khác. Nghĩa chữ chồng chất lên nhau, chữ này ẩn vào trong hay bị bao trùm bởi chữ khác, của bài thơ khác. Ư của thơ không c̣n nguyên ṛng — bất định và ảo hóa. Đi t́m lại tiền thân, nhưng cũng chẳng ai biết bài thơ nào là tiền thân của bài thơ nào. Thơ ở trên trời dưới đất, muốn đọc th́ với lấy, nhặt lên, bất chợt và t́nh cờ, chẳng thể chọn lựa, chẳng thể dừng lại v́ ṿng quay có bao giờ dừng lại. Trong lịch sử thơ Việt, chưa bao giờ lại có cuộc luân vũ mănh liệt đến như thế, của ngôn ngữ. Và thơ, phải chăng, không nằm ở chính ngôn ngữ, mà ở khoảng khắc bốc hơi của ngôn ngữ, và chúng ta có thể tạm gọi cho đơn giản là quy tŕnh hóa thân của ngôn ngữ. Bài thơ chẳng c̣n ở quá khứ hay hiện tại (và cũng chẳng phải tương lai) mà là tiến tŕnh của thời gian. Và người đọc được mời gọi, nhập vào tiến tŕnh ấy, để cùng hoàn tất thơ. Thơ làm khó diễn dịch và giải thích, v́ vậy, chỉ c̣n lại người đọc và tác phẩm. Ngay tác giả cũng mờ nhạt trong định mệnh của ṿng chơi. Nhưng không phải v́ thế bài thơ không cần diễn dịch; sự diễn dịch cần thiết v́ nếu nó kéo người đọc càng lúc càng xa tác phẩm, xa cách thơ, th́ sẽ tạo nên phản ứng và nỗ lực làm người đọc t́m cách đến gần tác phẩm. Freud, khi đề cập tới việc đọc một tác phẩm văn học, cho rằng, đọc là phát hiện diễn tiến hóa thân của những yếu tố làm nên tác phẩm. Như vậy, ư nghĩa của bài thơ không quan trọng, mà quan trọng là cách nó tạo ra ư nghĩa. Nếu ngôn ngữ là hệ thống những kư hiệu, có nghĩa là sự tập hợp nhiều kư hiệu tạo nên ngôn ngữ, th́ ngôn ngữ hẳn phải được nh́n theo một cách nh́n khác. Roland Barthes cho rằng, quần áo, quảng cáo, những hoạt động thể thao và tất cả đối tượng và h́nh thái ứng xử đều là hệ thống những kư hiệu phải được giải thích qua những ẩn tính văn hóa. Như vậy cái ǵ cũng có thể trở thành ngôn ngữ, nếu nó chuyên chở được một ư nghĩa, như một bông hoa là kư hiệu, nhưng nếu kết thành ṿng hoa, nó trở thành ngôn ngữ. Ngôn ngữ chi phối mọi khía cạnh trong đời sống, và nếu ngôn ngữ có trước cá thể, th́ thơ đi trước nhận thức con người. Thơ, như một động lực phá vỡ ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ tạo thành quyền lực, bao vây và nô lệ hóa con người. Chống lại ngôn ngữ, chẳng có cách nào khác hơn là đuổi bắt, diễu cợt và gây rối, bóp méo và làm dị dạng ngôn ngữ. Tựa như nhân vật Gregor Samsa của Franz Kafka (trong The Metamorphosis) bỗng chốc hóa thành dị hợm, không phải con người dù vẫn mang tâm trí của con người, hay những con vật trong Animal Farm của George Orwell, dù có biến thái thế nào đi chăng nữa, th́ người ta vẫn có thể đọc được thông điệp từ đằng sau những biến cố. Những biến cố ấy chẳng qua cũng chỉ là những động lực giải phóng đời sống, cũng có nghĩa là giải phóng khỏi những chật chội, tù túng, áp bức của thực tại.
Thơ Bùi Giáng, gợi ra và soi sáng một điều: thơ là một chuyển động không ngừng, cuộc hóa thân đến kỳ cùng của ngôn ngữ. Từ thơ có vần đến thơ tự do, và cho đến những thể loại mang tính h́nh tượng bây giờ, cũng chỉ là những biến hóa của ngôn ngữ mà thôi. Nh́n lại thơ Mỹ, từ thơ có vần đến thơ tự do thời Walt Whitman, cho đến Concret Poetry (Thơ Cụ Thể), Found/Collage Poetry (Thơ T́m Được/Cắt Dán)1, Projective Poetry (Thơ Dự Phóng)2, hoặc Organic Poetry (Thơ Hữu Cơ)3, hàng loạt những cách tân, thử nghiệm, kéo theo hàng loạt những phát biểu, những tuyên ngôn, th́ cũng là những đột biến từ dạng thể này sang dạng thể khác. Ngôn ngữ chẳng qua là phương tiện như bất cứ phương tiện nào khác, một cục đá, một vật thể vô tri, cũng được, hà cứ phải là con đường chữ. Từ đó có thể nh́n ra, thơ Mới Tiền chiến là loại thơ mà ngôn ngữ bất động. Người đọc bắt được ngay ư và cảm xúc thơ. Tựa như một vật bất động, chúng ta dễ dàng nh́n ra h́nh dạng của nó, nhưng khi chuyển động th́ khó ḷng thấy được. Nếu chuyển động theo tộc độ cao, như tốc độ ánh sáng, th́ vô phương nhận biết. Nói chung, người đọc có tâm lư chiếm đoạt và tiếm đoạt, nên dễ cảm thông được với thơ Tiền Chiến, bởi v́ qua đó, ai cũng có thể làm thơ và phát biểu một vài điều về thơ. Nhưng khi bước qua cái khoảng vào đời ấy, tới một thời kỳ trưởng thành của thơ, th́ không ai có thể vượt qua những khó khăn. Thơ của thời kỳ này, đối với người đọc thật tối tăm, khó hiểu, cầu kỳ, hũ nút và chừng như không phải thơ. Thơ lạ mặt với người đọc đă đành mà c̣n làm bối rối ngay cả với những người muốn t́m hiểu nó. Nếu thơ dị ứng với người đọc th́ cũng tạo nên những phản ứng từ ngay những nhà thơ. Bùi Giáng quay về với cơn cuồng điên (có thật là cuồng điên?), Thanh Tâm Tuyền ẩn dật vào nơi chốn nào đó của ông, và Lê Đạt bông đùa với nhân thế. Quay về với cơn cuồng điên cũng là nhập vào cuộc xoay vần của con chữ. Nói cho ngay, đời sống chính là ngôn ngữ. Và người đọc nếu muốn hiểu thơ ông, cũng không có cách nào khác là nhập vào ḍng chuyển động ấy. Nếu không th́ người ta cứ tha hồ bới trên những bản văn, áp đặt những ǵ không dính líu ǵ đến thơ để t́m kiếm thơ. Nếu thơ, một nửa phần nằm trong tinh thần chiêm nghiệm và kinh nghiệm, c̣n nửa phần khác là sự học hỏi và đời sống, th́ nếu không nh́n thấu suốt được cái toàn thể ấy, th́ chẳng bao giờ chạm tới ch 7895; cốt lơi của thơ. Nói cho cùng th́ thơ là vấn đề của ngôn ngữ. Và nếu nắm được sự biến hóa của ngôn ngữ th́ nắm được thơ.
Nếu ví sự chuyển động của ngôn ngữ như sự chuyển động của h́nh ảnh, th́ những h́nh ảnh liên tiếp vừa hoán đổi vừa vắng mặt tạo nên ư nghĩa, và ư nghĩa ấy cũng vừa hoán đổi, vừa vắng mặt. Sự đọc, chính là quy tŕnh của vô thức, bởi vô thức là sự trượt lướt của ư nghĩa bên dưới những h́nh ảnh. Và nếu ví bản văn là tấm gương soi, th́ qua đó, h́nh ảnh trong tấm gương cũng chẳng phải h́nh ảnh thực của chúng ta. Nó vừa thật vừa ảo, tạo nên sự mê hoặc của sự nhận biết, ta là chính ta, và qua cái chính ta đó, ta nhận biết được ta. Như vậy, có phải là bài thơ đă giúp chúng ta đi từ sự bí ẩn cùng tận để trở về hiện thực, từ vô thức trở về ư thức, từ tưởng tượng trở về thực tại. Vậy th́, vô thức chẳng phải là những ǵ chôn kín trong ta, mà là những ǵ ở ngoài ta, tác động và đan dệt chung quanh, từ thế giới bên ngoài, giúp chúng ta đi t́m lại được cái bản lai diện mục (của thơ hay của ai?). Thơ Bùi Giáng, cũng như thơ Đặng Đ́nh Hưng, Lê Đạt, Thanh Tâm Tuyền, những nhà thơ đă móc vào được quy tŕnh biến hóa đó, chẳng phải đă chuyển cách đọc một bài thơ, từ đáy sâu của vô thức đó sao?
Trở về với bức họa Một và Ba Chiếc Ghế, đó là thí dụ khá cụ thể, để chúng ta có thể mường tượng quá tŕnh của ngôn ngữ, quá tŕnh thưởng ngoạn, từ phía sau của bức họa. Một tác phẩm nghệ thuật ví như ngôi nhà đóng kín, nếu không mở được cánh cửa th́ làm sao thấy được những ǵ ở bên trong, nh́n ra giá trị đích thực của nó. Và người đọc phải chính ḿnh bước vào, đối mặt, thẩm thấu và ném ḿnh theo cơn sóng cuồng bí ẩn, với nó. Giống như những bức tượng của Rodin, đă có hàng ngàn trang viết về Rodin, nhưng không có ǵ có thể thay thế được tác phẩm ngoài chính tác phẩm. Và nếu tác phẩm là một cách lạ hóa đời sống, th́ cách lạ hóa đó chẳng qua, là chỉ phát hiện những ǵ bị che mờ bởi thực tại, phát hiện cái thực tại của thực tại. Vả lại, thơ vượt lên và trải dài qua mọi thời kỳ, mọi trường phái lư thuyết. Và dù hiện nay, vẫn c̣n đang có tranh căi gay gắt giữa các lư thuyết, th́ mới thấy rằng, chính tác phẩm tạo nên lư thuyết chứ không phải những lư thuyết tạo nên tác phẩm. Nhưng nói ǵ th́ nói, cả lư thuyết lẫn tác phẩm, nếu không có những cập nhật thường xuyên, th́ sẽ chẳng bao giờ theo kịp được với những chuyển biến nhanh chóng của thơ và thực tại. Có điều là, những hành tŕnh thơ, có dung chứa nổi và xuyên suốt được qua nhiều thời đại hay không. Một bức họa, một bài thơ, một tác phẩm văn học luôn luôn ẩn chứa những ma lực. Nhưng trước khi bước vào, chúng ta phải t́m cho ra cách đọc nó. Thơ Bùi Giáng có cái ma lực quyến rũ ấy, và ở thời ông, đă có biết bao nhiêu người làm thơ giống ông, nếu không về ngôn ngữ th́ cũng về giọng điệu. Thật ra họ không làm thơ đâu, họ đọc ông đấy thôi. Và từ bao lâu nay, đă có nhiều người đọc, viết về thơ ông, nhưng đa phần cũng chỉ chạm tới được những ǵ ở bên ngoài thơ. V́ thế thơ ông càng lúc càng xa người đọc, và ông cũng càng lúc càng cô đơn, càng cô đơn th́ càng đẩy ông vuột khỏi tầm bay, và lao vào một tinh cầu khác. Đọc, là đối thoại giữa ư thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người đọc và tác phẩm. Chúng ta nói tiếng nói của chúng ta, tác giả nói tiếng nói của tác giả, có khi trái cựa, có khi mỗi người mỗi ngả, nhưng qua đó, nẩy sinh ánh chớp sáng, ánh chớp ấy xẹt ngang, thanh tẩy và làm mới tâm hồn ta. Sự đọc, mỗi bài thơ, mỗi nguồn thơ, dường như đ̣i hỏi những cách khác nhau. Cách đọc ấy vốn đă có sẵn trong tác phẩm, không thể áp đặt từ bên ngoài, và v́ thế, người đọc phải tự t́m lấy. Đó cũng chính là hàm ư, làm một bài thơ khác. Bài viết này cũng chỉ là một thử nghiệm, một cuộc đối thoại, giữa thế hệ này và thế hệ khác, như một nhấn mạnh, chỗ khởi đầu là phát hiện nơi chính thơ, một cách đọc khác. Và những bài thơ trích dẫn, chẳng qua, là đánh thức một nguồn thơ, mà chúng ta dường như đă quên mất, trong quá khứ (hay trong tiềm thức), làm nó sống lại, ẩn hiện, như giấc mơ hồi sinh. Và thơ Việt, dù đang trong sự chuyển ḿnh theo một chiều hướng khác, th́ chẳng qua cũng vẫn nằm trong cách thức hóa thân của ngôn ngữ, có ǵ lạ đâu. 1. Found/Collage Poetry (Thơ T́m Được/Cắt Dán): tương tự như Pop Art, cóp nhặt câu chữ từ các nguồn khác như quảng cáo, truyện... dàn dựng thành bài thơ hay tạo h́nh bằng cách cắt dán chữ, h́nh vẽ từ các báo và tạp chí... 2. Projective Poetry (Thơ Dự Phóng): Gồm những chùm chữ thay cho ḍng và các khoảng trống, có thể đọc từ chùm đầu tới bất cứ chùm nào, hoặc từ mảng chữ của chùm này đọc tṛng tréo qua các mảng chữ của chùm khác. 3. Organic Poetry (anh PTH dịch là Thơ Hữu Cơ): Chủ trương thể thơ và h́nh thức bài thơ tùy thuộc vào cảm hứng tự nhiên hơn là các thể có sẵn, tương tự như Dạng Thức Thơ. Khế Iêm
|
|
|