Chú Giải
về Thơ Tân H́nh Thức
Khế Iêm



Tân H́nh Thức
Và Câu Chuyện Kể

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đă được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen; găy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm h́nh cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như
thế thôi th́ thế thôi, biết đâu chừng

nhưng người đàn bà và đàn con nheo
nhóc, vẫn kể lại câu chuyện đă được
kể lại, như người khác đă từng kể
lại, dù chẳng để lại ǵ ngoài câu

chuyện đă kể, bởi câu chuyện đang tự
kể lại, và không ai, ngay cả người
đàn bà và đàn con nheo nhóc, bước
ra ngoài câu chuyện đă được kể lại.

Trong những tuyển tập thơ Hoa Kỳ như “Poems For the Millennium” hay “Postmodern American Poetry”, sau mỗi bài thơ được tuyển chọn, thường có một đoạn chú giải (commentary) về bài thơ hay quan điểm về thơ của tác giả, do chính người làm thơ viết hay của nhà xuất bản. Đối với thơ Việt, nhất là những bài thơ mang tính thử nghiệm, có lẽ cũng là cách hay, để người đọc có thể tiếp nhận và dễ đánh giá. Trong hai bài thơ “Tân H́nh Thức và Câu Chuyện Kể”, tôi thử áp dụng một số yếu tố của thơ Tân H́nh Thức Hoa Kỳ (New Formalism) vào thơ Việt, chọn thể tám chữ, mang giọng kể là thi pháp tự nhiên của đời thường (tính truyện), xử dụng kỹ thuật vắt gịng (enjambment), đọc liên tục từ ḍng (line) này sang ḍng khác, lập lại những nhóm chữ (như nhạc Rap) để tạo thành điệp vận và vần không hợp cách.

Giống như một vật t́m được (found object), chúng ta vào một cái kho chứa, t́m kiếm, lục lọi được một món đồ cũ, lấy ra dùng. Những nhà thơ Tân H́nh Thức Hoa kỳ đă trở lại các thể thơ như sonnet (không quá 16 ḍng), thể thơ không vần, và với ḍng iambic pentameter, gần với ngôn ngữ nói thường ngày, kết hợp với chất liệu của đời sống hiện đại để tạo nên một thể loại hoàn toàn mới, hóa giải luật tắc nhấn iambic (không nhấn, nhấn) và cách đọc pentameter (một ḍng có 5 foot). Hóa giải, thật ra là sử dụng thể luật và luật tắc như một dụng cụ, tỉa bớt những âm rườm rà của ngôn ngữ nói, để làm ra thi pháp đời thường (a poetics of the everyday). Nhưng thi pháp đời thường v́ gọi như thế nên biến hóa và không dừng lại ở bất cứ định nghĩa nào, và chỉ có thể định nghĩa qua hàng loạt những thách đố, nắm bắt và thực hành khác nhau, bởi một điều, không phải dễ lấy thơ và phát hiện bí ẩn từ những thứ tẻ nhạt và tầm thường của đời sống. Đối với ngôn ngữ Việt th́ lại càng mới mẻ, và cần những thử nghiệm của nhiều người, vả lại, những dị biệt trong cách phát âm và diễn đạt giữa hai hệ ngôn ngữ (tiếng Anh và Việt), tạo ra dị biệt trong phương cách và phong cách thơ.

Nếu thơ Tiền chiến, cách tân bằng cách, dùng cảm xúc để thoát ra khỏi luật tắc cứng nhắc của thơ cổ điển, th́ thơ Tân H́nh Thức Việt (tạm gọi như vậy) sử dụng ngôn ngữ đời thường, kết hợp với một số yếu tố và kỹ thuật của thơ tự do tiếng Anh, phá vỡ âm hưởng Tiền Chiến, chấm dứt nửa thế kỷ dậm chân tại chỗ của thơ. Thơ cổ điển, theo phép làm thơ của Thơ Đường, với luật bằng (level tone), trắc (deflected tone), vần (rhyme) và cao độ (pitch, gồm 4 tone), lao tâm khổ tứ v́ chữ (dùng và chọn chữ) th́ thơ Tiền Chiến chỉ c̣n giữ lại vài yếu tố như vần (thường là cước vận), trau chuốt chữ và cách đọc ngừng ở cuối ḍng. Thơ chủ vào cảm xúc, nhẹ phần nội dung, nên không ra ngoài cảm xúc và ảo giác, đôi khi lại là cảm xúc mơ hồ, không thực, được tạo ra từ những vần điệu du dương. Thơ kéo người đọc ra khỏi đời sống, và chính người làm thơ cũng lánh xa đời sống. Có lẽ v́ vậy nên nhiều người tưởng lầm rằng thơ chỉ có thể cảm, chứ không thể giải thích v́ làm sao giải thích cái không thể giải thích, khi âm điệu và cảm xúc được coi như điều kiện thiết yếu để đánh giá là thơ hay. Thơ trở nên bí ẩn, thuộc về thế giới mộng ảo, và nhà thơ giống như nhà soạn nhạc, viết kư âm bằng chữ (nhiều bài thơ vần phổ nhạc rất thành công cho thấy, hai thể loại này gần gũi trong cách sáng tác). Đă có nhiều nhà thơ, cố thoát khỏi ảnh hưởng Tiền Chiến bằng cách làm mới ngôn ngữ và cảm xúc, tuy nhiên v́ vẫn sử dụng phương pháp thơ Tiền Chiến, nên không những không ra khỏi, mà c̣n làm mạnh thêm ảnh hưởng đó. Ngay cả những nhà thơ tự do sau này, phá bỏ thể loại và vần, nhưng vẫn nương vào cảm xúc, âm và nghĩa chữ, chỉ khác là cảm xúc trong thơ Tiền Chiến dựa vào nhạc tính của vần điệu th́ trong thơ tự do, hoặc dựa vào ư tưởng và âm chữ, hoặc vẫn dựa vào cách tạo nhạc của Tiền Chiến. Cả hai cách đều không qua khỏi Tiền Chiến, có lẽ chính v́ vậy mà thơ tự do đă rơi vào khủng hoảng, làm nản ḷng và đẩy người đọc quay về Tiền Chiến.

Khi sử dụng thi pháp đời thường thay thế thi pháp cảm tính (nếu có thể gọi như vậy), là đưa hẳn thơ qua một thời kỳ khác. Những yếu tố của thơ truyền thống như liên tưởng, hoán dụ hay ẩn dụ... và hàng loạt các yếu tố khác, chắc không c̣n đất sống v́ mỗi thi pháp đ̣i hỏi những yếu tố thích hợp, được phát hiện trong quá tŕnh sáng tác. Thơ khuấy động và khích động bởi những cuộc phiêu lưu đúng lư và đúng nghĩa, chẳng khác nào, thế giới đang đi t́m một trật tự mới để thay thế một trật tự đă cũ. Thơ không c̣n tùy thuộc vào nỗ lực của từng cá nhân, mà là những vận động rộng lớn của cả một thế hệ, như một trào lưu, xác định tiếng nói và bản chất của một nền văn hóa ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử thi ca. Nhưng nhà thơ khi chọn một ngôn ngữ bởi sự quyến rũ và ḷng yêu mến, và là ngôn ngữ họ có khả năng nhất để biểu hiện thơ, ở đây là tiếng Việt, cớ ǵ không hợp quần, nhiều phong cách làm một phong cách, nhiều tiếng nói làm một tiếng nói, thành một phong trào đầy tự tin và hào hứng. Điều này đ̣i hỏi chúng ta, phải xóa bỏ những định kiến và tự măn cá nhân, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, trong tinh thần giống như thi pháp đời thường, có ǵ là quan trọng và ghê gớm đâu. Chúng ta cứ thoải mái sao chép (copy), càng nhiều càng tốt, và không ai cấm được chúng ta bắt chước lẫn nhau trong tṛ chơi nhiều thú vị này. Một nhận xét khá phổ biến về thơ: “Poetry is fun – serious often, but fun. It is also communal.”

Những phân tích đơn giản trên có thể chưa đúng hoặc không đầy đủ, chỉ là chủ quan của người viết, dẫn tới nhận xét, mỗi thời kỳ thơ, có luật tắc tạo nhạc khác nhau, tạo nên những loại nhạc tính khác nhau. Nhạc trong thơ cổ điển khác với Tiền Chiến, và Tiền Chiến khác với thơ bây giờ. Đổi mới thơ, chính là đổi mới phương cách tạo nhạc, luật tắc và phương pháp biểu hiện. Thơ cổ điển và Tiền Chiến phải ngâm, thơ Tân H́nh Thức chỉ để đọc, nhưng khác với thơ tự do trước đó, có những luật tắc căn bản để tạo thành nhịp điệu, và người làm thơ theo đó phát huy được nhạc tính cho thơ. Khi đọc, chúng ta cảm thấy thanh thoát tự nhiên, như đang hít thở không khí, gặp gỡ ngoài đường phố, giao tiếp với bạn bè, và với mọi người. Đó là thứ âm nhạc tṛ chuyện (music of conversation), phong phú và hàm súc, mỗi lúc mỗi khác, và là những khoảng khắc có thực của thực tại. Thơ được chắt lọc và bước ra từ thực tại, mà thực tại th́, không nằm ở trong mù sương, thuộc về quặng mỏ chứa đầy chất đời. Nhưng bây giờ có lẽ c̣n quá sớm để tiên đoán, thơ có ra khỏi và làm một bước ngoặt mới, tùy thuộc vào những nhà thơ có dám dứt khoát với những giấc mộng đêm qua.

(Đề cập tới thơ cổ điển, Tiền chiến hay thơ tự do Việt không phải là để phán đoán, mà rút ra từ kinh nghiệm của chính tôi. Ở thời kỳ đầu, tôi làm đủ thể loại từ thơ vần tới tự do, chủ ư làm mới cảm xúc và ngôn ngữ, và thấy rằng, cũng chỉ là làm mới Tiền Chiến, và nếu có một chút giá trị th́ đó là giá trị của một chặng đường đă qua. Tới thời kỳ hai, tôi thoát hẳn ra bằng cách sử dụng ḍng động lực và sự chuyển động trên căn bản cú pháp. Tiếp theo đó là những kết hợp giữa thơ và nhiều nguồn khác nhau như thơ và kịch, kể cả bằng graphic... và tưởng rằng đă đi khá xa so với thời kỳ đầu. Nhưng vấn đề không phải đi xa hay gần mà tôi nhận ra, thơ có quyền năng, và chỉ có thơ mà thôi, cho chúng ta biết giới hạn và thất bại của ḿnh. Nhà thơ đều là những kẻ thất bại, và nếu không nhận ra được điều đó, có lẽ chẳng bao giờ họ trở thành nhà thơ. Thất bại làm cho nhà thơ nhận ra được chính ḿnh và mọi người, thúc dục họ phải đi tới măi, cho đến bao giờ thôi không c̣n đi được nữa. Phủ nhận chẳng qua là phủ nhận những thất bại để làm lại một thất bại khác. Vấn đề là thất bại lớn hay nhỏ, và chúng ta có dám đối mặt với nó hay không. Những ngành khác có thể đưa chúng ta đến vinh quang, nhưng thơ ngược lại, đưa chúng ta trở lại đời thường, mà đời thường th́ có cả những dị thường).

Thật ra, không phải thơ tự do khước từ h́nh thức cũ của truyền thống, mà một cách sâu xa, do qui ước văn học và thái độ xă hội, chỉ hợp thức hóa, và để nó vào đúng chỗ. Làm mới là đi t́m những h́nh thức mới. Thoát khỏi h́nh thức, phản ứng lại h́nh thức, là diễn đạt bằng hàng loạt những h́nh thức khác nhau. Không có h́nh thức, không có tiếng nói, bởi tiếng nói vẫn nằm trong qui luật của ngôn ngữ, vả lại dù là không h́nh thức (formless) th́ đó vẫn là h́nh thức. Thơ tự do và truyền thống tuy hai mà một, chỉ là chọn lựa cách diễn đạt. Và khi, cùng một lúc, những thái độ và giá trị cũ đă hoàn toàn biến mất, mất tăm như những nền văn minh cổ đại, th́ nhà thơ, trên bước đường t́m kiếm, bắt gặp truyền thống, như t́m được thời gian đă mất. Như vậy, dùng lại h́nh thức thơ truyền thống, cũng chẳng khác nào làm mới, theo đúng nghĩa của những nhà thơ hiện đại.

Nhưng những nhà thơ Tân H́nh Thức chẳng dừng ở quan niệm làm mới, v́ đó là phương cách của thời hiện đại, mà dùng thể truyền thống ḥa trộn với chất hiện đại (bao gồm thơ tự do) giống như kiến trúc hậu hiện đại, tạo thành một thể lai, hoàn toàn khác, không những hóa giải và làm tan biến truyền thống, mà cả hiện đại. Thơ tự do (trong ngôn ngữ tiếng Anh) làm khó người đọc, v́ tùy thuộc vào sự căng thẳng hay sức ép giữa văn phạm và chiều dài của ḍng, của đoạn thơ. Mỗi đặc tính có những cách dùng riêng biệt và được cân nhắc bên trong bài thơ, và người đọc phải phải tạo ra tiến tŕnh đọc, bởi những biến cố được lập lại trong cấu trúc, ngẫu nhiên và t́nh cờ, từ những âm vang dầy đặc của ngữ pháp và hiệu quả thị giác. Hóa giải, cũng có nghĩa là giải phóng kỹ thuật, dù có một thời là những cánh cửa đóng, phải mở ra trước khi đi vào cơi thơ.

Chữ nghĩa, h́nh ảnh bóng bẩy và cầu kỳ không c̣n, chỉ c̣n sự đơn giản, tự nhiên như một ḍng đời sống. Vần và chỗ ngắt không bất di bất dịch chỉ ở cuối ḍng, mà cũng giống như thơ tự do, xuất hiện ở những chỗ không thể đoán trước. Nhà thơ Ba Lan Wyslawa Symborska khi nói rằng: “Trong văn xuôi có không gian cho thơ, nhưng trong thơ chỉ có không gian cho thơ.” Vậy th́ thế nào là một bài thơ văn xuôi (a prose poem)? Ở điểm nào nó là thơ và ở điểm nào không phải là thơ? Cứ đặt thành những câu hỏi tương tự, dần dần từ chỗ mơ hồ, chúng ta chạm tới một thực tế, trở về với những yếu tố căn bản, đâu là ḍng (line) và đâu là câu (sentence)? Ḍng thơ có thể là một câu (a self-enclosed line), cũng có thể chỉ là một phần của câu (phrase), và phải cần nhiều ḍng mới hợp thành câu. Khi dùng cách vắt ḍng (enjambment) phá đi cách đọc dừng lại ở cuối ḍng, người đọc bị thúc đẩy đi t́m lại phần đă mất (của câu), tốc độ đọc nhanh hơn, và phải đọc bằng mắt. Điều này gợi tới ư niệm thời gian và không gian trong thơ. Cái phần mất đi ấy là phần ǵ, phải chăng là một phần đời sống, của quá khứ hay tương lai, và như thế, hiện tại không lẽ chỉ là cái trống không? Nhưng cái trống không ấy lại chẳng trống không v́ những chuyển động không ngừng của cái biết và chưa biết, đè lấp lên nhau. Thơ bật lên từ sự vặn vẹo và phức tạp của văn phạm và cú pháp (syntax), tạo thành nhịp điệu và nhạc tính. Điều rơ ràng, bài thơ và tri giác về nhịp điệu (perception of rhythm) không nằm ở ngôn ngữ (chữ), mà ở nội dung ngôn ngữ (the content of the language). Nội dung ngôn ngữ chính là những chuyển động của cảm xúc trong phạm trù văn phạm và cú pháp. Nói như thế, chẳng khác nào chúng ta đi đến một kết luận, ngư&#

7901;i làm thơ, trước khi làm thơ phải rất giỏi về văn xuôi. Chữ có thể chết đi, và khai sinh nhưng văn phạm và cú pháp th́ không, giống như một ḍng tâm t́nh, có tính phổ quát, chuyên chở chất sống của đời sống, dù rằng chúng ta có sống ở bất cứ thời nào và nơi chốn nào. Những nhà thơ Ngôn Ngữ Hoa Kỳ là những người được tinh luyện trong cú pháp, đă từng đẩy tới cùng cực, dùng cú pháp phá vỡ cú pháp, xóa bỏ ranh giới giữa thơ và văn xuôi.

Thơ rơi vào sự tối tăm khó hiểu, nhiều khi chẳng phải v́ tư tưởng cao siêu ǵ, mà v́ sự lủng củng của cú pháp, cũng như nếu thiếu nhạc tính, thơ sẽ chỉ c̣n là một đống ư tưởng và ngữ nghĩa, làm thất vọng người đọc. Nhưng nhạc tính trong thơ không giống với nhạc tính trong âm nhạc. Bài thơ như một bức tranh nói. Chúng ta đọc một bài thơ, không giống như nghe một bản nhạc, bởi âm thanh của tiếng nói bất qui luật (irregular), trong khi âm nhạc, nằm trong qui luật. Trong nhạc là một chuỗi âm thanh liên tục từ khởi đầu đến chấm dứt, trong khi thơ th́ không. Ngôn ngữ sở hữu ngữ nghĩa, tạo thành những ḍng chảy, cùng với cấu trúc cú pháp, lệ thuộc vào bản văn văn hóa và bản sắc cá nhân. Sự tác động hổ tương giữa h́nh ảnh và ngữ nghĩa tràn đầy và quyện lại, khác với những chuyển động không ngừng của âm thanh trong âm nhạc. Chúng ta đọc, dừng lại, rồi lại đọc, h́nh ảnh và ư tưởng dội ngược, chồng chất lên nhau; tiếp tục đọc, định hướng (thematic direction), kết hợp thêm h́nh ảnh và ư tưởng mới, dừng lại để nắm bắt những chuyển động; đọc lại để ghi nhớ, tiếp tục đọc và lập lại ngay tức khắc để kết hợp tất cả những khác biệt trong động tác đọc. Đọc, trừ ra trong một khoảng khắc tạm thời, th́ không có đường nối. Chúng ta đẩy các chữ, và nhóm chữ (phrase) ra xa, rồi dàn dựng lại trên cái nền trí tưởng, trong cái cách mà tác giả cũng không thể nào tiên đoán trước, ngay cả khi tác giả và người đọc là một.

Thơ Tân H́nh Thức có một vài tên gọi khác, như Thơ Mở Rộng (Expansive Poetry), thơ Hậu Ngôn Ngữ (Postlanguage Poetry), và mỗi thuật ngữ, như một cánh cửa mở, nối (link) thơ với những truyền thống và các bộ môn khác (âm nhạc, kịch, điện ảnh...). Thơ Tân H́nh Thức cũng giống như Hyper Poetry, Hyper Text Poetry, là một ngă rẽ, phản ứng và kết hợp, thoát xác và hồi sinh mục đích là t́m ra một nền thơ cho thời đại mới. Gọi là thơ Hậu Ngôn Ngữ là muốn thơ tiếp nhận những đóng góp lớn lao của phong trào thơ Ngôn Ngữ trước đó để làm nguồn sức mạnh. Gọi là thơ Mở Rộng là đưa thêm vào thơ những yếu tố như vần (rhyme), luật tắc (meter), nhạc tính, kịch tính (dramatic), cấu trúc truyện kể (narrative structure), dễ tŕnh diễn và thích ứng với kỹ thuật (technology) và âm nhạc b́nh dân... Thơ không thể định nghĩa hay định nghĩa nằm trong tiến tŕnh đi t́m định nghĩa, phá bỏ mọi giới hạn, dung chứa mọi thời kỳ và gấp lên nhiều lần, tránh đi những khúc mắc tu từ bằng cách đưa vào thi pháp đời thường. Một trong những luận cứ mạnh mẽ những nhà thơ Tân H́nh Thức Hoa kỳ đưa ra, là trên hai thập niên qua, thơ tự do (free verse) đă trở thành nhàm chán, nhạt nhẽo, nghèo nhạc tính, không có ǵ nổi bật, làm mất nhiều độc giả, và cuối cùng th́ thơ thu hẹp lại, không ra khỏi phạm vi những trường đại học. Chủ ư vẫn là t́m ra một nền tảng nhạc tính mới, như âm nhạc đă liên tục biến thể, để phù hợp với khung cảnh văn hóa, xă hội của thời đại. Bài thơ là tiếng nói của sự thực, như những câu truyện phải nghe hàng ngày và nhiều lần trong đời, và những chữ lập đi lập lại, chẳng đă lắng trong ta, âm thanh và ư nghĩa, mỗi lúc mỗi khác hay sao.

Thơ đ̣i hỏi phải định nghĩa lại mọi thể loại, để không bao giờ dừng lại cái định nghĩa khởi đầu. Thơ Tân H́nh Thức, dù sao cũng chỉ là một mặt tích cực trong nhiều mặt của thơ hậu hiện đại, một nền thơ luôn luôn bất định. Từng ngày qua, chúng ta tiếp nhận quá tải những thông tin, h́nh ảnh, và những mẫu truyện bằng mắt qua truyền h́nh, cắt chính chúng ta thành những phần mảnh, phần mảnh kinh nghiệm, ư nghĩa và cả phần mảnh văn hóa, và mỗi phần mảnh tự nó đă ẩn chứa một tính truyện. Sự rời rạc là triệu chứng của thời hậu hiện đại khi đă phá vỡ tính siêu truyện kể (metanarrative) của thời hiện đại, không có truyên kể nào là siêu truyện kể, và mỗi truyện kể đều ngang bằng với nhau. Những cái ǵ lớn vẫn lớn đấy, nhưng cô đơn và vô tích sự, chỉ c̣n là một cách nói, nào có mang thêm thi vị và ư nghĩa cho đời sống. Và có lẽ thi pháp của thời hậu hiện đại là thứ thi pháp không thể biện giải (non-apologetics), v́ nó luôn luôn biến đổi và nối kết phức tạp với nhiều loại thi pháp khác nhau. Vả chăng, thơ Tân H́nh Thức có tạo ra được ǵ đâu (enjambment là kỹ thuật đă có từ lâu), chỉ tái sử dụng (recycle) những ǵ đă có sẵn, chẳng khác nào tṛ cắt dán, nhưng là tṛ cắt dán tinh vi và đầy nghệ thuật, cung cấp và làm phong phú thêm phương pháp thể hiện cho thơ. Nếu thập niên 1980, là những hoạt động sôi nổi của thơ Ngôn Ngữ th́ thập niên 1990, là những tranh luận gay gắt giữa những nhà thơ Ngôn Ngữ và Tân h́nh thức Hoa Kỳ. Bước sang thế kỷ mới, là thời kỳ xây dựng và khai phá một nền thơ cho thế kỷ. Dĩ nhiên, có những yếu tố, chúng ta có thể áp dụng vào thơ Việt, và có những yếu tố khác, chúng ta phải tái định nghĩa cho phù hợp với ngôn ngữ Việt.

Nh́n lại mọi thời kỳ, từ truyền thống đến tự do và Tân H́nh Thức, thơ như sợi chỉ xuyên suốt, luôn luôn đổi thay, phù hợp với nhịp đập của mỗi thời đại. Chúng ta vừa bước qua một ngưỡng cửa, bỏ lại đằng sau, những cuộc cách mạng nẩy lửa, những biên giới ngăn cách, những biến cố kinh hoàng để bước vào một kỷ nguyên đầy nhân bản, quay về với con người, với đám đông. Áp dụng ngôn ngữ tự nhiên của đời thường, tính truyện, quảng cáo, Pop Art... chẳng phải chỉ t́m kiếm người đọc, lấy lại sức mạnh cho thơ giữa những ưu thế của TV và điện ảnh, mà cũng là phản ứng đối với một nền văn minh, đang chia cắt và đẩy con người tới bờ vực ảo. Mỗi yếu tố trong thơ, đều ngầm chứa một ư nghĩa. Mỗi đời sống cá nhân được kể như một câu truyện với khởi đầu và kết thúc, và không có ai là tác giả hay là chính câu truyện của đời họ. Chẳng phải những người kể truyện lang thang từ thời xa xưa, đă mang những hành động và nhân vật sống lại, và nếu không có họ th́ mọi thứ đều vô nghĩa. Tính truyện làm chúng ta trở thành có thực, đối với người khác và đối với chính ḿnh, cho chúng ta biết làm sao thích hợp và sống trong một thế giới, và nếu không có chúng ta, cái thế giới ấy chỉ là một hành tinh xa lạ. Nên nhớ rằng, hành động viết, là nh́n thấy những điều không thể nh́n thấy, đưa đôi mắt cho mỗi người để có thể nh́n thấy nhau, và cho thế giới biết về sự hiện hữu của con người.

Bài thơ chỉ có chức năng như một dẫn chứng để làm nổi bật lên một vài yếu tố khả dĩ có thể áp dụng vào thơ Việt. Phương pháp hay những yếu tố thơ đều mang tính duy nhất, nhưng mỗi người áp dụng sẽ có những hiệu quả khác nhau. Chúng ta hăy cùng bước trên một con đường, dẫn dắt nhau, chẳng phải v́ một cá nhân ḿnh, mà cho sự hưng thịnh của thơ. Sự thất bại hay thành công không phải là điều quan trọng, mà là một dấu mốc cho những thế hệ mai sau, đỡ đi những vấp ngă. Nh́n lại trong suốt một chiều dài lịch sử văn học, từ thơ cổ điển, Tiền Chiến đến tự do đă có những tác phẩm định h́nh cho nền thơ Việt. Ngay bây giờ, chúng ta vẫn c̣n phải trở lại những thời kỳ đó, để học hỏi, rút tỉa kinh nghiệm và làm khác đi, mở đầu cho một nền thơ tân kỳ. Chúng ta chỉ xứng đáng, và tiếp nối được với công sức lớn lao của những thế hệ trước, nếu t́m ra được phương cách biểu hiện, tạo thành một chuyển tiếp, và chứng tỏ, thơ Việt vẫn là một nền thơ tràn đầy sức sống. Lịch sử đă sang trang, và một thời kỳ mới cũng đă bắt đầu, có một ư nghĩa vô cùng chuẩn xác. Chuẩn xác v́ ai cũng biết, chúng ta không thể sống với một tâm tư cũ, những thói quen cũ. Chào đón một thiên niên kỷ hay một tân thế kỷ không phải chỉ là một lời nói suông, mà mỗi chúng ta cần phải chấp nhận sự lột xác. Sự học hỏi chỉ có ích nếu giúp cho chính chúng ta và mọi người áp dụng vào được trong sự thực hành, như thế mới có sự thay đổi, để chính thức bước vào một thiên niên kỷ mới.

Mùa Xuân 2000

KHẾ IÊM
Biên Khảo Tân H́nh Thức Tứ Khúc và Những Tiểu Luận Khác


Home