THƠ TUYỂN

Phan Tấn Hải

 

 
 

 

 

 

 

NGƯỜI ĐỨNG BÊN LỀ

Quay lại, nhìn ngang, chen vào, bị lấn
ra. Thác người xô đẩy, lũ lượt theo
chân, những dòng người sợ hãi dắt dìu,
chen nhau cùng đi, cùng chạy, cùng nhảy.

Những dòng người dày xéo lên nhau trôi
chảy đi như thác như sông - không kịp
nhìn về trước, không kịp nhìn qua bên,
không kịp nhìn dưới chân, có ai sau

lưng thúc tới, có ai trước mặt giục
giã, hò hét. Tôi đứng bên lề nhìn
theo, giữa những trận mưa đá ném sang,
những trận mưa lời chúc dữ bay khắp

trời, khắp phố phường, khắp rừng núi, khắp
đuờng mòn, khắp thung lũng chập chùng, không
lối ra. Không lối ra, tôi dõi mắt
tìm em, đăm chiêu, mơ hồ, mong đợi,

không lối ra, trong nhóm mây tan hợp.
Xin em nhìn ngược ra bên lề, nơi
những người không còn chỗ trên trần gian,
nơi tôi, ngửa bàn tay lên để chờ

xin ơn phước, úp bàn tay lại để
ủ hơi ấm, co ro. Mau một chút,
mau một chút nữa, kẻo thác người lại
cuốn đi, và rồi chúng ta sẽ có

ngày cùng nhắm mắt và nhớ lại phút
giây chạy ra ngoài lằn ranh, mau một
chút nhé, một chút thôi, kẻo rồi mây
tan. Tôi về ngồi khóc, cặm cụi viết

những dòng thơ lên giấy, lên thanh gỗ
bên thân cầu, lên vuông gạch hè phố,
lên kính cửa sổ trước nhà, hy vọng
mơ hồ một hôm thác người lại xô

đẩy em về,  tìm thấy chữ tôi giăng
khắp trời, khắp phố phường, khắp rừng núi,
khắp đuờng mòn, khắp thung lũng chập chùng,
không lối ra, và tôi ngồi giữa những

núi chữ, những núi chữ, những núi chữ.
Nhưng đã trễ, trang giấy một thời ai
đã xé, thanh gỗ bên cầu đã gãy,
và vuông gạch đã vỡ, còn tôi đang

nhặt lại từng mảnh kính vỡ, ghép lại
từng mảnh kính, chữ vỡ, và em hồn
sơ nguyên của tôi nơi đâu, nơi đâu.
Tôi đang đứng bên lề, bên lề...

 

 

 

GIỮA NHỮNG DÒNG THƠ LỜI CHƯA NÓI

Tôi có tên bạn ở quê nhà nghèo
không kể xiết, vẫn lang thang mỗi ngày
làm thầy lang dạo, trên chiếc xe đạp
chở đủ thứ kim châm, sách cổ, và

đôi khi vài bài thơ làm dở muốn
tìm người nghe góp ý, nhiều khi không
đủ gạo về nuôi vợ con trong ngày,
đói thê thảm vẫn lạc quan đi nhà

thờ mỗi ngày lần chuỗi xin quan phòng,
ngồi cà phê vỉa hè vẫn nhẩn nha
đọc cho người nghe bài kinh “xin tha
thứ người…” mà nào thế hệ chúng tôi

có tội tình gì, mà bàn tay bàn
chân đầy chai sạn mỗi khi vui mừng
tìm được ngày bán sức lao động,
giữa một thời thơ ném ra giữa đường

để mong quên luôn một đời, chỉ mong
giành giụm cho đủ tiền mua một chiếc
xích lô để kéo hết đời bên các
hè phố Sài Gòn, mong các con lớn

lên đủ chữ đọc cho thông, để nhìn
vào mắt cha đẫm lệ tìm đọc lại
giữa những dòng thơ lời chưa nói.
Tôi cũng có tên bạn, tình thân không

xiết kể, cùng chia xẻ những trang sách
ngày đầu mới lớn, cùng đội mưa chạy
băng những cánh đồng tuổi nhỏ, cùng bị
trận gió lịch sử dập vùi cho tơi

tả, từng có lúc nguyện liều thân đem
bình an về cho đời, rồi cùng thay
nhau vào tù để thấy hết cái mong
manh của phận người, và rồi lại những

ngày đi khắp các chùa tìm hỏi các
sư về nghĩa lớn, lời chưa nói hết
mà nước mắt đã ướt những trang kinh,
tay bưng tô cháo thiền môn mà trĩu

nặng cả ngàn thế giới, cầm bút ghi
nắn nót lại những dòng chữ cổ để
dò tìm tâm ý người xưa,  thật khẽ
khàng chỉ vì sợ làm rạn vỡ hồn

giấy mực, và rồi ngày rời nước chỉ
tiếc không nói hết được với bạn những
gì tôi hiểu – một khi bất chợt vô
tâm mà rồi cũng chẳng còn lời nào

dằn túi. Tôi có bốn đứa em quanh
năm thất nghiệp,  cuối năm 2000 vẫn
ở chung nhà cùng xài TV đen
trắng, tay chưa bao giờ chạm tới cái

phone, mỗi ngày túa ra đường lang thang
các xóm, đạp xe từ Chợ Lớn đi
Sài Gòn, Gia Định toát mồ hôi dò
hỏi, đôi khi đi làm đâu được vài

 tuần,  và rồi lại nghe lời thông báo
hết việc, nghe đâu đất nước đang thời
đổi mới tiến vào thế kỷ 21
tiền xài khỏi đếm, vẫn hồn nhiên mỗi

hai tháng viết thư xin tiền anh, đâu
có biết tôi bên này cực nhọc đi
lượm từng đồng quarter ngoài phố, với
những dòng chữ ngồi gò lưng mỗi ngày

viết cho đầy trang báo, như các cụ
đồ một thời bán chữ những ngày xuân,
mà giữa phố người qua lại thường khi
bực dọc la mắng, đôi khi còn bị

đấu tố chụp mũ biểu tình giữa Little
Saigon nơi người ta vẫn bảo là
đất lành chim đậu. Tóc các em đã
bắt đầu nhiều sợi trắng, dù mắt tôi

vẫn thấy các em nhỏ như thuở thật
xa và lòng tôi vẫn muốn tìm một
lời ngắn gọn dặn dò, như kiểu tôi
nói thử tìm một công thức mì ăn

liền cho hiểu biết, mà môi tôi ấp
úng và lời tôi không còn lời; các
bạn tôi đã bắt đầu lưng còng,
như lời tôi nghe từ một người bạn khác,

vẫn chờ tin tôi như chờ phép lạ,
vâng đúng một thời chúng tôi tin phép
lạ, nhưng tôi không còn thấy phép lạ
nơi đâu ngoài quê nhà, nơi các bạn

và các em tôi mỗi ngày vẫn sống
bằng phép lạ, nơi nhiều ngày họ chỉ
sống bằng khí trời và nước lã, nơi
nhiều tuần chỉ sống bằng cà phê và

thuốc lá, nơi nhiều năm sống chỉ bằng
những dòng thơ và một tấm lòng hồn
nhiên, và là nơi một đời chúng tôi
đã sống chỉ bằng nước mắt.

 

 

 

MỖI NGÀY LÊN RỪNG LƯỢM HÁI

Mỗi ngày tôi lên rừng lượm hái,
lo nhặt chút gì về cho con
đỡ đói, lầm lũi giở trò khỉ
vượn bám cành níu nhánh, chen qua

núi rừng chữ nghĩa mịt mù sương,
cân nhắc hai tay hai chân hai
đầu phải trái, này là quả ngon
trái ngọt rồi quả độc trái hại,

này là lá măng lá trúc hái
về mong cho con ấm bụng giữa
kiếp người buốt lạnh. Mỗi ngày tôi
lên rừng lượm hái, nhặt quả khô,

hái quả chín, chăm sóc quả tươi,
hồi hộp theo dõi bọn thợ săn
dưới chân núi lăm le đốt rừng,
tôi lo sợ khỉ vượn nai mễn

rồi không còn đất sống, những tiếng
kêu la xé lòng mỗi ngày, vết
chân thú chạy kinh hoàng chen chúc,
thấy rừng núi oằn mình đau đớn,

có tôi nhìn mỗi ngày khóc theo.
Mỗi ngày tôi lên ngồi trên đỉnh
núi, cắm cúi đọc sách hy vọng
cho sớm qua một kiếp người, nghe

những tiếng trần gian vọng từ phương
xa tới, tiếng vui tiếng buồn, tiếng
than thở tiếng cằn nhằn, có cả
tiếng người vọng từ nghìn năm trước

còn khô khốc mùi giấy, vang vọng
chung với những tiếng người ngợi ca,
tiếng người la mắng. Mỗi ngày tôi
lên rừng lội suối, moi giữa tầng

tầng lá vàng lá xanh, nhặt ra
từng chữ, nâng lên ngắm nghía trầm
trồ, chữ này nặng, chữ kia nhẹ,
chữ nọ dịu dàng, chữ kia thương

tổn, chữ này tuổi thọ trăm năm,
chữ kia xưa cổ nhiều thế kỷ,
chữ này bán được, chữ kia khó
bán, với ẩn hiện những khuôn mặt

người – hốc hác, đớn đau, vui mừng...

trần gian buồn như tre trúc
có tôi giữa đời ngồi khóc
nghe sông suối chảy trong ngực
thấy rừng mọc dựng thành tóc

mỗi ngày lên rừng lượm hái.

 

 

 

ĐÓ LÀ GIỌT MỰC

Những giọt mực lăn trong đời anh theo
vết chân từ những ngày hôm qua, hôm
kia, hôm nay và rồi anh tin sẽ
theo cả những ngày sắp tới, khi tiền
định không cho chúng ta hiểu thâm sâu
hơn, khi mắt nhìn bị che mờ giữa
các hàng chữ, khi tìm nhau sương khói
mịt mù từng kiếp và vẫn cứ xa
nhau lầm lạc. Dù là giọt mực ân

cần một thuở làm thơ giữa những mùa
xuân, hè, thu, đông quanh năm đi tìm
lại những lọn bạc màu của tóc, khi
nét chữ không từ giấy bút mà từ
những toàn thân đầu mắt ngực môi tim
của anh ngơ ngác tuổi thanh xuân. Đó

là giọt mực đen chạy trong những dòng
thơ của anh và lăn rời khỏi trang
giấy, chạy miệt mài giữa phố để rồi
in lên đỏ môi hồng má em những
ngày giông bão xô về bứt rời từng
trang thơ anh của một thời ngồi
khóc giữa quê nhà. Đó là giọt mực

lăn chạy khỏi tay anh và anh đuổi
theo giữa phố đông người mong tìm bắt
lại nhưng rồi chợt xô vào em một
hôm để ngẩn ngơ một đời tội nghiệp
nhìn theo bên lời xào xạc những kiếp
xưa quạnh quẽ. Đó là giọt mực loang 

đầy tay anh những ngày đầu nắn nót
tập vần và không chịu bứt rời để
một hôm thành lời thật nhẹ nhàng dung
chứa đại dương với cá kình rủ về
nằm yên đểanh ra ngồi giữa chợ
nghe lời người mắng mà cứ thấy là
lời sóng ru miệt mài không thôi. Đó

là giọt mực một hôm vào đời đã
đứng dậy thành người, thành em, thành
anh, thành cõi bờ, thành thế giới
để anh nhìn vào mắt em và thấy
mắt anh, mắt người với những lòng xót
thương cũng một màu đen, cũng một màu
đen lánh, cũng những ngàn thế giới không
khác biệt gì nhau. Đó là giọt mực,

đó là giọt mực đã rơi từ thật
xa xưa và vẫn còn tươi mới – như
lời của anh nói với em hôm nay.

 

 

THẤP THOÁNG
NHỮNG MẢNH ………. (ĐỜI)

Về đây để ngồi những ngày thứ hai
thứ ba thứ tư thứ năm thứ sáu
thứ bảy chủ nhật, đổ mồ hôi cho
tròn một tuần, giữa chợ trời chợ đất
chợ đời quanh mình có quen cũng vờ
như xa lạ, bốc từng nắm chữ trải
đầy lên giấy, đổ cả lon mực ra
bày hàng, quay lại nạt con, bảo ngồi
yên, để bố bày trò phù thủy kiếm
tiền rồi sẽ dẫn con đi xem xi
nê Jackie Chan, trước mắt nhìn
thấy có ông đi qua có bà đi
lại, có tôi gãi đầu mày mò từng
chữ Ăng Lê, dốc hết túi moi cạn
kho ra hòng làm xiếc chữ i chữ
tờ, chỉ mong rồi kiếm đủ sống qua
ngày, vẫn hồi hộp không hiểu sáng mai

ra sao, khi chủ phố tới gõ cửa
đòi tiền, mà chưa kiếm đủ để nộp
cho con theo học trọn lớp hè để
buổi sáng chở con đi học, thấy trước
nhà vẽ đầy huy hiệu băng đảng, cũng
ráng mỉm cười với mấy cậu Mễ đầu
trọc bên đường, chỉ mong đêm đêm về
không bị quậy phá, mà lòng lo sợ
con lớn lên rồi chơi với các cô
cậu giang hồ, quen với những đêm thứ
sáu thứ bảy nghe nhạc trong xóm ầm
ầm, tiếng đàn tiếng hát tiếng giậm chân
nhảy vang vang, tiếng ồn tiếng cười tuổi
trẻ Mễ Tây Cơ, xoa đầu con bảo
ráng học cho mau, để nữa lớn phải
bỏ xóm này cho sớm, lạy trời lạy
phật, ngoan để đừng như bố lang thang
một đời vẫn ngu ngơ bất định, mong

sau này dạy cho con môn võ nhà
chùa trâu đất qua sông, trâu bùn vượt
biển, mà chờ khi đất tan  bùn rã
chứ dám mong gì trần gian hơn để
êm về đùa giỡn với con, dạy đọc
bên này chữ ti bên kia chữ tờ,
nghe bên này chữ bi bên kia chữ
bờ, nài nỉ con ráng học cho đủ
chữ  để đọc những tờ thư nhăn nhúm
từ các cô các chú nơi quê nhà
gửi tới, xin con đừng thắc mắc sao
thư bên trời xa mặt trước mặt sau
không thấy gì vui, giấy cũng không thành
màu giấy, mực vẫân cứ là màu tím,
góc thư vẫn cứ phi cơ, tiền tem
lên tới số nhiều ngàn, sao tái bút
luôn luôn là lời nhắn xin tiền, và
chuyện kể không bao giờ thơ mộng, thôi

để bố dạy con nheo mắt làm trò,
tập nhìn xem bên này chữ vui bên
kia chữ buồn, xem phía sau ai người
kẻ chữ, mà sao tim bố vẫn nhói
đau như thời mới ra đi, để tôi
những chiều thứ bảy ra biển ngồi nhìn
vào nơi thật xa thấy mình vẫn thấy
vẫn nghe vẫn cảm tiếng cười tiếng khóc
các em bên kia trời đông sao vẫn
như thời thơ trẻ để tôi bên này
bây giờ như đã già thêm trăm tuổi
để nhìn các em quê nhà câm lặng
nặng nhọc mỗi ngày đạp xe ra chợ
áo rách sờn vai không đầy chén cơm
mỗi chiều vẫn tin vào trời vào phật
chuyện xưa một thuở trần gian đi lạc
phải đành cho trọn kiếp người. Những trận

mưa khuya sài gòn ai hay vẫn ướt
khung kính quận cam ai hay vẫn lạnh
buốt tôi bên trời.

 

 

 

Last modified on 06/30/2007 4:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC