ĐỌC THƠ

Nguyễn Tất Độ

Bài viết Khế Iêm

 

 
 

 

 

 

mm

Nhà thơ Nguyễn tất Độ

 

(NHỮNG) NGƯỜI ĐIÊN

Hắn thích chạy vòng vòng và
vừa chạy vừa quay vậy mà hắn không
chóng mặt thậm chí hắn còn
cười khoái chí hắn cứ chạy vòng vòng

ngày này qua ngày khác và
vừa chạy vừa quay lúc tỉnh cũng như
lúc say ban ngày cũng như
ban đêm hắn không ngủ người ta bảo

hắn điên và khăng khăng bảo
hắn điên hắn vẫn chạy vòng vòng và
vừa chạy vừa quay cho giống
sự chuyển động của cái hành tinh mà

hắn và loài người đang sống

“(Những) Người Điên”. “(Những)” mang tính toàn bộ, trong khi “Người Điên” mang tính cá thể. Hắn vừa chạy vòng vòng vừa quay, như trái đất tự quay chung quanh nó và quay quanh mặt trời. Khi nhập vào cái toàn bộ, hắn không còn nhận biết được chính mình, bởi không có sự phân chia giữa chủ thế và khách thể, giữa điên và không điên. Cá thể cũng là toàn bộ.

Điên là trạng thái ở ngoài tâm trí, giữa hỗn mang và trật tự, giữa mơ và tỉnh. Một tác phẩm nghệ thuật luôn luôn bước ra khỏi sự phân biệt của tâm trí, bao gồm cái toàn bộ cả hỗn mang (mơ) lẫn trật tự (tỉnh). Bức tranh sơn dầu “Nhịp Điệu Mùa Thu” (Autumn Rhythm), 1950 của họa sĩ Jackson Pollock, người mở đầu phong trào Trừu tượng Biểu tượng (Absract Expressionisn) Mỹ vào thập niên 1950, vẽ bằng cách vẩy, đổ, vung vãi màu sắc trên vải bố, theo nhịp chuyển động của cơ thể. Ảnh hưởng nghệ thuật trừu tượng của họa sĩ Đức, Hans Hofmann và trường phái Siêu thực (Surrealism), ông đưa ra quan điểm hội họa hành động (The act of painting) chẳng khác nào viết tự động (Automatic writing) của Siêu thực.

Có điều, người xem bị choáng váng, không hiểu gì, bởi bức tranh chỉ là phần hỗn mang của hội họa, còn phần trật tự chính là quan điểm nghệ thuật của tác giả mà người xem không thấy. Hiểu cặn kẽ lý thuyết là bước đầu của sự thưởng ngoạn. Vì trong khi thưởng ngoạn, tâm trí không thể xen vào, nên lý thuyết không còn tác dụng phê phán. Lý thuyết phải nằm sẵn trong vô thức, hoá giải hỗn mang để người xem dễ dàng cảm nhận tác phẩm. Cũng như thơ THT, nếu không hiểu lý thuyết thì làm sao có thế cảm nhận cái hay của dòng thơ này.

 

mm

Jackson Pollock
Autumn Ryhthm, 1950
Oil on canvas 8'9" x 17'3"

 

Trở về bài thơ “(Những) Người Điên”. Hình thức bài thơ được đặt ngay ngắn giữa trang giấy, mang tính trật tự và tỉnh táo. Nội dung là hành động của một người điên (hỗn mang), vừa chạy vòng vòng vừa quay. Bài thơ viết theo thể lục bát, không chấm phẩy, mang tính đều đặn, đọc miên man, không ngừng nghỉ, giống như những vòng quay. Ba dấu chấm làm thành câu cuối cùng, như một điệp khúc, nhắc nhở phải đọc lại từ đầu, cứ thế và cứ thế… Bài thơ có khả năng lôi kéo người đọc đọc lại nhiều lần, và ba dấu chấm trở thành một phần quan trọng của bài thơ. Đây là một bài thơ tân hình thức điển hình.

*

Nhà thơ Nguyễn Tất Độ, khi mới xuất hiện, những sáng tác đầu tiên của anh có thể được coi như có giá trị ngang với bất cứ bài thơ nào của những tác giả đã nổi danh. Nhiều người đọc, đọc tâm đắc. Bởi cách diễn đạt và ngôn ngữ trong thơ vẫn còn gắn bó với truyền thống thơ Việt, chỉ khác là cú pháp liên tục, không đứt đoạn như thơ vần điệu hay thơ tự do. Sự chuyển đổi từ từ đó phù hợp với nhiều lớp người đọc. Trong thơ, hình ảnh dùng để diễn đạt chính xác đời sống nội tâm phong phú.

                        … Hãy cho tôi đi
bằng đôi chân của anh vì chân tôi
không còn nữa.  Cho tôi sờ cuộc đời
bằng đôi tay của anh vì tay tôi

không còn nữa. Cho tôi nhìn cuộc đời
bằng đôi mắt của anh vì mắt tôi
không còn nữa. Cho tôi nói tiếng người
bằng thanh quản anh vì cổ họng tôi

không còn nữa...

(Cà Phê Sáng)

            Hay như:

Hỡi em, ta và những linh hồn
đã ra đi trong cơn tuyệt vọng
hãy về đây chiều nay, hãy ngồi
lại trong cơn buồn bã này, rồi

cùng nhau chết thêm lần nữa...

(Chủ Nhật Buồn)

Không thiếu những câu chữ rất đẹp đó trong những sáng tác đầu tiên của anh. Nhưng sau đó, những bài thơ của anh đã mang tính kể, một đặc tính của thơ tân hình thức Việt. 


VỆT MỰC & TỜ GIẤY

Tôi quệt một vệt đen lên tờ giấy
trắng. Một vệt đen trên tờ giấy trắng.
Tôi mang đi hỏi người. Có người nói:
”Một vệt đen”. Có người nói: ”Một tờ
giấy trắng”. Có thể vì không thấy một
vệt đen, hay thấy tờ giấy trắng kia
còn hữu dụng. Tôi thì nói: ”Một tờ
giấy trắng có vệt đen”. Lại nữa, tôi

quệt một vệt đen lên tờ giấy đen.
Tôi mang đi hỏi người. Ai cũng bảo:
”Một tờ giấy đen”. Có thể vì không
ai thấy vệt đen. Một vệt đen trên
tờ giấy đen thì làm sao mà thấy!
Duy chỉ mình tôi biết rõ, trên tờ
giấy đen có vệt đen. Lại nữa, tôi …

Một vệt đen trên tờ giấy trắng, có người chỉ thấy vệt đen mà không thấy tờ giấy, ngược lại, có người chỉ thấy tờ giấy và không thấy vệt đen. Bởi họ chỉ nhìn thấy một mặt của vấn đề, mà không thể một lúc nhìn thấy toàn bộ vấn đề. Còn một vệt đen trên tờ giấy đen thì người xem và vật được xem, không còn phân hai, mà đã nhập lại thành một.

“Người Đàn Ông Ở Trạm Xe Buýt” kể chuyện một người đàn ông ngồi chờ ở một trạm xe buýt nhưng khi mỗi chuyến xe tới ông chỉ ngước nhìn và không hề bước lên. Những người hành khách khác cũng không bận tâm tới ông vì hiểu lầm là ông lỡ chuyến này hay đang chờ chuyến khác. Người biết chuyện thì cho rằng ông chẳng chờ đợi gì cả, vì nhà ông ở ngay bên cạnh. Chờ đợi là hình thức của giấc mơ. Người đàn ông chẳng đã sống, như không sống, hết giấc mơ này đến giấc mơ khác trong tưởng tượng và chưa một lần sống thực. Ông ngồi đó mà không ai biết đến ông, ngay cả ông cũng không biết ông là ai. Ông bất động, là hiện thân của quá khứ, vì thực tại luôn luôn chuyển động, như những chuyến xe tới và đi.


HAI CÂU

Tôi nhặt được một câu thơ bên
vệ đường trên gói xôi nóng hổi
mà bà lão bán xôi vừa cho
người ăn mày, bên hông xe đẩy
của bà lão tôi thấy một tấm
biển nhỏ ghi chữ “1 ngàn / gói”.

Tôi nhặt được một câu thơ trong
một nhà hàng trên món Cua Hoàng
Đế mà một đại gia vừa gọi
để làm vừa lòng cô gái ăn
mặc như một con điếm, menu
đề giá “1 triệu 5 trăm ngàn”.

Tôi ghép hai câu ấy lại thành
bài Tân Hình Thức và tôi viết
phía sau những con chữ đang hiển
hiện này, ai đọc được thì đọc!

Nếu bài thơ “Vệt Mực & Tờ Giấy” vẫn còn trong những khái niệm mơ hồ, thì bài “Hai Câu” đúng thực là ngôn ngữ và câu chuyện đời thường. Bài thơ rõ ràng, không cần phải giải thích gì thêm, ngoài điều tác giả viết đằng sau những con chữ, điểm một nét bí ẩn để hoàn tất bài thơ.

Khi mới xuất hiện, thơ Nguyễn Tất Độ đã là một ngạc nhiên. Và chỉ trong một thời gian rất ngắn, chúng ta thấy những bước đi rõ nét của thơ anh. Anh hẳn phải là một con chim báo bão, một nhà  thơ tiên phong? Điều này không ai có thể tiên đoán ngoài chính anh, khẳng định bằng những bước đi kế tiếp, mới lạ và sinh động. Mong thay.

 

Tiểu sử

Nguyễn Tất Độ
Sinh ngày 05-06-1983
Sống tại Việt Nam
Với tôi thơ là không khí để thở, là phương tiện giải bày bức xúc.
Thơ Tân Hình Thức đã cho tôi một lối đi.

 

 

 

 

Last modified on 07/30/2007 2:00 PM © 2004 2007 www.thotanhinhthuc.org.
MUCLUC